LỊCH SỬ NGÀY QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

1
LỊCH SỬ NGÀY QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG
10 THÁNG 3 ÂM LỊCH
Y sĩ Huệ Lộc
Đất nước Việt nam giàu đẹp, Con người Việt nam thông minh, anh hùng.
Trải gần năm ngàn năm dựng nước và giữ nước, mỗi dòng sông, tấc đất, ngọn cỏ
Việt Nam đều thấm máu Ông Cha, ghi đậm các chiến tích anh hùng của dân tộc.
Nhưng đã mấy ai trong chúng ta đủ có điều kiện để hiểu một cách cặn kẽ, thấu đáo
và đầy đủ về “ Nguồn Cội Dân Tộc ta”. Đó là điều mà mỗi người khi nghĩ đến đều
thấy như thiếu mất một cái gì thiêng liêng nhất. Để lấp khoảng trống đó, đồng thời để
chào mừng ngày Đại Lễ Giổ Tổ Hùng Vương lần thứ 4992 Việt Lịch, chúng tôi xin
gởi đến bạn đọc bài viết này.
Ngày ấy thủa xa xưa cách đây gần năm nghìn năm, sau khi sanh nở 100 đứa con
trai tuấn tú, khi các con vừa khôn lớn, cha Lạc Long Quân về thủy cung ở với Mẹ (
Thần Long Nữ). Trước đó Mẹ Âu Cơ nuôi con chờ mãi mà không thấy Chồng trở lại.
Mẹ Âu Cơ ở lại một mình nuôi đàn con nhỏ. Lúc Đức Lạc Long Quân về, Mẹ Âu Cơ
nói : “ Sao Chồng không cùng Vợ lo lắng sự nghiệp giang sơn xã tắc ?” Cha Lạc
Long Quân nghẹn ngào nói với Âu Cơ rằng :
“Ta là giống Rồng, Nàng là giống Tiên, Thủy Hỏa tương khắc, chung hợp thật khó.
Rồng ở biển sâu, Tiên ở thượng ngàn. Mặt trăng mặt trời không thể gần nhau, Thái
Âm Thái Dương cách biệt, nhưng lại không thể thiếu nhau, nay ta đã kết làm vợ
chồng, Âm dương hòa hợp, sinh được 100 con. Bờ cõi trãi khắp biển cả. Ta không
thể vì chuyện sum họp vợ chồng, cha con mà bỏ giang sơn bờ cõi. Vậy ta chia
đôi đàn con. Nàng dẫn 49 đứa lên rừng, Ta đem 50
con xuống biển”. Người con trưởng được phong làm vua thay Cha Lạc Long
Quân: Đế hiệu Hùng Quốc Vương, Húy Lân Lang, hàng năm lấy ngày kỵ nhật 18
tháng giêng của Vua Ông Nội là Kinh Dương Vương là ngày Thủy Tổ Dân
Tộc. Thế rồi 2 người từ biệt nhau. Đức Lạc Long Quân dặn : ”Khi nào có việc
hiểm nguy thì cứ gọi: “ Bố ơi, Bố ở nơi nao hãy mau mau về cứu chúng con, thì
ta đến ngay.”
Thế rồi cha dẫn 50 đứa con xuống biển, mẹ dẫn 49 con lên núi, từ biệt
nhau. Các con theo mẹ đi đến đâu cũng dạy Dân cấy lúa, nuôi tằm dệt vải. Trên
hành trình dài ngàn dặm đó, một ngày kia mẹ Âu Cơ đến trang trại Hiền Lương,
Huyện Hà Hòa, Tỉnh Sơn Tây. Bấy giờ thấy chim đâu bay đến từng đàn, đàn
này lại đàn khác hót líu lo như vui thích chào mừng, lại thấy phong cảnh thiên
nhiên tươi đẹp, có núi Tản Viên cao, Sông Đà dài rộng, hồ nước mênh mông
trong xanh bát ngát, cây cối hoa lá tốt tươi, muôn thú dồi dào. Nơi đây long mạch
2
kết phát, thế đất phong thủy đắc địa kết phát anh hào, nhân vật phú cường (
Sơn Tây là quê hương của Vua Ngô Vương ( NGÔ QUYỀN – vị vua đã giành lại
độc lâp cho Tổ Quốc Đại Việt sau hơn 1000 năm bắc thuộc Trung Hoa 939-
944).
Mẹ Âu Cơ cho khai hoang lập ấp, dạy dân cày, cấy luá, trồng dâu nuôi tằm,
dệt vải. Hiện nay còn lưu lại giếng Loan, Giếng Phượng, Gò thị, Cây
Dâu là những tên còn đọng mãi trong ký ức người dân xã Hiền Lương,
dù đã 50 thế kỷ qua. Khi trang ấp đã ổn định, mẹ Âu Cơ cùng các con, các
cháu lên đường đến những miền đất mới, bờ cõi biên cương được mở rộng. Sau
này mẹ Âu Cơ trở về lại Hiền Lương nơi Mẹ Âu Cơ đã chọn để gắn bó với cuộc
đời của mình. Tương truyền ngày 25 Tháng chạp năm Nhâm Thân ( vào khỏang
năm 2569 TDL ) Mẹ cùng bầy Tiên nữ bay về trời. Dưới gốc cây đa nơi người để
lại DÃI YẾM LỤA, nhân dân đã lập miếu thờ giữ gìn hương khói đời này đến đời
khác cho đến tận bây giờ.
Lạc Long Quân
Đền thờ Lạc Long Quân tại đồi Sim (Phú Thọ)
Hùng Vương, Link: http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BA%A1c_Long_Qu%C3%A2n
Hùng Hiền Vương Vua Việt Nam (chi tiết…)
Người con trưởng được thay cha là Hùng Quốc Vương Lang Liêu được tiếp
tục cai quản đất nước này, đó chính là vua Hùng Vương thứ nhất. Đặt quốc hiệu
là VĂN LANG đóng đô ở Phong Châu ( Núi Nghĩa Lĩnh, Bạch Hạc Phú Thọ), chia
nước ra làm 15 vùng. Các Chi Phái vua sau cũng gọi là Hùng Vương, tiếp tục
thêm 17 đời chi phái sau này. Từ 2879 TDL dến 257 TDL vi chi 2622 năm,
chi phái Vua cuối cùng là Hùng Duệ Vương. Sau truyền cho con rể là Tản Viên
(Sơn Tinh?) được 10 năm. Cuối cùng rơi vào tay Nhà THỤC PHÁN An Dưong
Vương, Kinh Đô đóng tại Cổ Loa ( Đông Anh Hà Nội ngày nay) Quốc Hiệu Âu
Lạc 257 TTL đến 208 TTL = 49 năm.
Mỗi chi họ có một vị vua hoặc nhiều vua ngự trị, có tất cả gồm 47 đời vua. Riêng chi
thứ 18 Hùng duệ Vương, chi cuối cùng gồm 3 đời vua trị vì 150 năm. Hiện ở đình
Tây Đằng, huyện Ba Vì tỉnh Phú Thọ còn thờ Bài vị “Tam Vị Quốc Chúa”. Chi này
chấm nhứt năm Quý Mão 258 TTL vào cuối đời nhà CHU bên Trung
Hoa. Thời các chi phái các vua Hùng quan văn gọi là Lạc Hầu, Quan Võ là Lạc
Tướng. Con trai vua gọi là Quan lang, con gái gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi
3
là Bố Chính.
Trở lại nói về thủy tổ Người Việt rành rành sử sách còn ghi:
Vua Kinh Dương Vương là con Vua Đế Minh ( Cháu 3 đời vua Thần Nông Nước
Việt Cổ ). Ngày ấy ở xóm Bàng, Thôn Đoài, xã Mão Điền, Xứ Vũ Ninh trên vùng
châu thổ sông Hồng có vị Tổ Sư là Người khởi nguồn phát sinh ra nghề trồng lúa
nước. Từ đó nhân dân gọi là THẦN NÔNG. Hiện nay NGHÈ thờ THẦN NÔNG ở
đây vẫn còn. Hàng năm vào ngày 4 tháng 2 dân làng mở hội cầu mọi sự tốt lành
và lòng biết ơn CỤ THƯỢNG TỔ THẦN NÔNG.
Sử Sách còn ghi NỮ Long quan hệ Thần Nông sinh ra Viêm Đế, Viêm Đế sinh ra
Đế Minh, Đế Minh sanh ra Đế Nghi sau đi tuần du phương nam đến núi Ngũ Lĩnh
( Hà nam ngày nay) lấy con gái Vụ Tiên sanh ra Lộc Tục. Sau phong cho Lộc
Tục làm vua Phương Nam (Xich Quỷ), còn Đế Nghi làm vua phương Bắc ( Theo
bộ sử của Phan Tiên Sinh ở Thanh Oai).
Lộc Tục làm vua nước Xích Quỷ vào năm 2879 Trứơc Tây Lịch (TTL), kinh đô tại
núi Hồng Lĩnh còn gọi là Ngàn Hống thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay.
( Như vậy Thủ Đô đầu tiên của nước Đại Việt Cổ của chúng ta là Hồng Lĩnh
Hà Tĩnh Trung Việt ngày nay). Sau đó Vua Kinh Dương Vương và Hoàng
Hậu Thần Long dời đô ra AO VIỆT Việt Trì Phú Thọ, Và hạ sanh Sùng Lãm là
Lạc Long Quân.
Chùa Hương Tích , Hà Tĩnh
Chùa Hương Tích nằm trên ngọn Hương Tích trong dãy Hồng Lĩnh, thuộc xã Thiên
Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh với 99 ngọn cao thấp gắn với truyền thuyết 100
con chim phượng hoàng đi tìm chốn đậu càng thêu dệt thêm nhiều câu chuyện
huyền bí. Với nhiều truyền thuyết khác nhau về ngôi chùa, nơi đây ngày càng có
nhiều du khách đến đây để tìm hiểu và khám
phá.Link: http://blog.dulichbui.org/2009/07/chua-huong-tich-ha-tinh.html
4
Đền Kinh Dương Vương
Link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_H%C6%B0%C6%A1ng_T%C3%ADch
Trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của sử gia Phan Huy Chú cũng đã
nói tới việc vua Kinh Dương Vươngdời đô ra Nghĩa Lĩnh Bạch Hạc Phú Thọ.
Lăng mộ Kinh Dương Vương
Link: http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_D%C6%B0%C6%A1ng_V%C6%B0%C6%A1ng
Hiện nay ở Việt Trì còn các di tích lâu đài cũ : Lầu Phượng, Phượng Lâu… Đặc
biệt có di tích Tiên Cát, chỉ người thứ phi của Vua, ngay ở địa điểm nhà
máy mì chính Việt Trì hiện nay. Như vậy không phải ngẫu nhiên mà người Việt
chúng ta tự khai là Dân Tộc Kinh: Tức là nguồn gốc Kinh Dương Vương chứ
không phải Kinh Đô thành thị. Người dân Bách Việt suy tôn Kinh Dương
Vương là Thủy Tổ của mình vì tự coi mình là con cháu của Kinh Dương
Vương.
5
Vua Kinh Dương Vương sanh Năm nhâm Ngọ 2919 TTL, lên ngôi năm 44 tuổi trị
vì 86 năm từ 2979 TTL đến 2794 TTL.
Tác giả tại Viện Bảo Tàng Hùng Vương dưới núi Nghĩa Lĩnh
Đang cúng hoa và thắp nhang tại mộ vua HÙNG VƯƠNG thứ 6 : HÙNG HUY
VƯƠNG Húy Hải Lang . Thời kỳ này có Giặc Ân xâm lấn, sau bị Phù Đổng Thiên
Vương đánh bại. Vua nhường ngôi lại cho Lang Liêu : Sự tích bánh Chưng có từ
bấy giờ.
6
Mộ Kinh Dương Vương trước khi trùng tu 7/12/2007
Làng A Lữ Thuận Thành, Bắc Ninh
Vua Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, phong Âu Cơ làm Hòang
Hậu . Vua Lạc Long Quân sanh năm Bính Thìn 2825 TTL lên ngôi năm 33 tuổi ( Từ
Mậu Tí 2793 đến Bính Thìn 2525 TTL). Mộ Lăng Kinh Dương Vương và đền thờ
KINH DƯƠNG VƯƠNG- LẠC LONG QUÂN- ÂU CƠ hìện nay vẫn còn tại làng Á Lữ,
Huyện Thuận Thành Tỉnh Bắc Ninh, cùng với lăng Mộ vua Hùng và đền thờ 18 chi
phái vua Hùng tại Phú Thọ, là nơi tụ hội tâm linh của dân tộc. Chỉ có dân tộc Việt
Nam có mà thôi. Các dân tộc khác, quốc gia khác nằm mơ cũng không có.
7
Mộ Kinh Dương Vương nâng cấp bằng Rồng đá do HỘI ĐIỆN CHẨN
và các thân hữu thực hiện 29/12/2007
Thời xưa hằng năm tổ chức lễ quốc lễ vào ngày 18 tháng giêng âm lịch là ngày kỵ
giổ của vua Kinh Dương Vương. Sau này triều Nguyễn Phúc Gia Long làm quốc
lễ vào mùa thu, mãi đến năm Vua Khải Định thứ 2 -1917 Tuần phủ Phú Thọ là
LÊ T NGỌC xin bộ Lễ lấy ngày 10 tháng 3
8
Âm lịch hằng năm làm Quốc Tổ trước ngày giổ vua Hùng Vương thứ 18 1 ngày.
Theo cách tính của âm lịch của dân tộc thì tháng 3 là tháng thìn, còn ngày CÓ 12
ĐỊA CHI : TÍ, SỮU…. HỢI. Ngày mười là ngày Dậu. Dậu là gà thuộc loại chim,
mà chim điểu là biểu tương của Tiên, do đó ngày 10 tháng 3 là ngày Tiên
tháng Rồng. Để giúp con cháu dễ dàng nhận thức về nguồn gốc dân tộc của
mình là CON RỒNG CHÁU TIÊN.
Lăng Hùng vương trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh
9
Đền Hạ
Non sông, Tổ quốc Đại Việt ta hôm nay, một giãi đất vòng vèo bên bể đông sóng
gíó, gíó nam Lào Quảng Trị, sương tuyết SAPA Đồng Văn. hình như chữ S con
rồng; Đầu là Bắc Bộ với nhiều Mỏ quăng thép, săt, đồng, chì , kẽm, than…; Giữa là
miền trung Lưng Rồng Trường Sơn với những bãi biển Nha trang, Sầm Sơn, Đà
nẵng, Phan Thiết đẹp nhất nhì thế giới, tiềm năng du lịch đang đợi chờ…; Đuôi là
nam bộ cạnh cuối đuôi Rồng nên sản xuất cho dân ta nhiều lúa gạo, tôm cá phì
nhiêu…(Hiện nay xuất gạo của Việt Nam đứng thứ nhất thế giới vượt cả Thái lan
2012.)
Nước ta có diện tích 329.000 km2 trên đất liền và 700.000 km2 thềm lục địa kể cả
Hoàng Sa & Trường Sa. Biển Đông VN theo thống kê năm 2012 của WiKIPEDIA
trữ lượng dầu của chúng ta vượt ngưỡng 1,7 tỷ trong khi KUWAIT có 1,3 Tỷ. Dân
số buổi đầu dựng nước chừng 500.000 người, đầu thời Lý Trần hơn 5 triệu, nay
hơn 90 triệu.
CƠN LỐC LICH SỬ ngày 30 tháng tư 1975 có hàng trăm người Việt rời khỏi Việt
Nam, hiện nay có trên 3.000.000 người Việt định cư, làm việc tại nước ngoài mà hầu
hết sống tại các quốc gia tân tiến, phát triển nhất thế giới như Hoa kỳ gần
2.000.000.triệu người, Uc 300.000, Canada 280.000,
Đức 120.000, Pháp 80.000, Nga 60.000, Anh 30.000 và các Quốc gia khác như
Thụy Điển , Na Uy, Đan Mạch, Tiệp Khắc ….
Các con cháu của VUA HÙNG đã xuất sắc thành công hầu hết trên mọi lảnh
vực như: Toán Học, Không gian, Quốc phòng, Đìện Toán, Y khoa, Nông
Nghiệp,Thương maĩ, Âm nhạc, Kiến Trúc cũng như trong các ngành công nghệ
cao….Các tên tuổi như: Ngô Bảo Châu, Nguyễn Xuân Vinh, Trịnh Xuân Lãng, Đặng
Thái Sơn, Lê Bá Hùng, ROESLER đệ nhất phó Thủ Tướng Đức ( người Sóc Trăng)
… Đang và sẽ còn nhiều nữa nữa cống hiến tài ba cho nhân loại.
Hiện nay con em người Việt chúng ta có trên hàng trăm ngàn khoa hoc gia, Thạc sĩ,
Bác Sĩ, Tiến sĩ, Nha Sĩ, Kĩ Sư, Chuyên viên kĩ thuật… Đây là cả một rừng chất
sám cho Quê hương Việt Nam trong những ngày tháng tới.
10
Đất Nước Đại Việt sẽ là cường quốc của thế kỷ 21!!!
Đó là điều chắc chắn sẽ hiện thực !!!
Không có thế lực nào cản được bước tiến của con cháu Vua Hùng.
Tôi vẫn mơ ngày mai trời lại sáng
Cho Đại Việt quê hương chan chứa Ánh Bình minh
Bừng sức sống vẹn niềm tin Dân Tộc
Tổ Quốc, Giang Sơn ngóng đợi
Khắp năm châu bốn biển hẹn nhau về
Dựng tình người,xây đẹp cã tình quê
Hoa đời nỡ mừng :” GIANG SƠN MỞ HỘI.”
Huệ Lộc sưu tầm
Houston TX Dương lịch 19/4/2013
Nông Lịch 10 tháng 3 Quý Tỵ
VIỆT LỊCH 4892
Tài Liệu:
Gia Phả Đền Hùng , nhà Xuất Bản Phú Thọ
Lăng Mộ Kinh Dương Vương, Thông Tin Văn Hóa Tỉnh Bắc Ninh
Đền Cổ Loa, nxb Văn Hóa HN
Đại Việt Sử ký Toàn Thư , Lê V Hưu nxb HN
Cuộc Chiến thắng Nguyên Mông , GS Trần Quôc Vượng
Và một số tài liệu về đền Hùng tại Bảo tàng viện Đền Hùng Phú Thọ.
Xin đa tạ Nhà giáo Nhân Dân Nguyễn Đức Thìn đã giúp đở cung cấp tài liệu và góp ý chúng tôi
về bài viết có tính chất lịch sử này.
Nguồn: https://www.nhatbaovanhoa.com/a2986/tu-huyen-su-den-lich-su-ngay-10-thang-3-nonglich
http://www.vietnamvanhien.net/org/com/info

ĐẠI LỄ GIỖ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

DaiLeGioToHungVuong

NGÀY LỄ GIỔ

Đông Biên

Năm Thứ 4888www.vietnamvanhien.net
Đại Lễ QuốcTổ Hùng Vương năm 4889 tại Hoa Kỳ
(ảnh cuả Há Giang/Người Việt) 

NGÀY GIỖ TỔ

ĐÔNG BIÊN

 

        Dù ai đi ngược về xuôi,
       Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3.

Giỗ Quốc Tổ, gọi tắt là Giỗ Tổ, là một đặc thù của nền Văn Hiến Việt Nam. Trên thế giới có lẽ ít có dân tộc nào nhớ đến ngày giỗ tổ hay nói đúng ra là nhớ đến tổ tiên, người đã sáng lập ra đất nước, giống nòi như người Việt Nam.

Truyền thuyết kể rằng Tổ Phụ Lạc Long Quân lấy Tổ Mẫu Âu Cơ sinh ra 100 con, 50 con theo Cha xuống biển, 50 con theo Mẹ lên núi và con cả được truyền ngôi lấy hiêu là Hùng Vương. Thường thường nói đến giỗ Tổ là nói đến giỗ Tổ Hùng Vương. Nhưng niên hiệu lập quốc là năm 2879 tr.CN, thời Kinh Dương Vương, người sáng lập ra họ Hồng Bàng.

Kinh Dương Vương lấy Long Nữ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra Hùng Vương. Hùng Vương là cháu đích tôn của Kinh Dương Vương. Giỗ Tổ vì vậy phải là giỗ Tổ Kinh Dương Vương. Trong thời khai quốc, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương đều là những Tổ Phụ quan trọng của nòi giống Lạc Hồng. Giỗ Tổ vì thế nên cũng nhớ đến các Tổ Phụ Tổ Mẫu thời khai quốc, không nên chỉ nhớ đến Hùng Vương không mà thôi.

Lễ Giỗ Quốc Tổ có từ bao giờ ?   Không thấy sử sách truyền lại, nhưng có lẽ đã có từ rất lâu đời, từ thời còn nước Văn Lang. Trong thời Bắc thuộc lễ Giỗ Tổ hẳn là bị cấm, hơn nữa đất nước bị mất chủ quyền, không còn cấp lãnh đạo quốc gia để cử hành lễ Giỗ Tổ. Từ khi dành lại được chủ quyền, triều đình các triều đại nối tiếp nhau đã cử hành lễ Giỗ Tổ tại lăng miếu Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ. Hằng năm đến ngày Giỗ Tổ, triều đình đều cử quan thay mặt vua tới đền Hùng cúng tế long trọng.

 Tại sao lại chọn ngày mùng10 tháng 3 âm lịch để làm ngày Giỗ Quốc Tổ ?

   Mỗi năm đến ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch, dân ta lại tưng bừng cử hành lễ Giỗ Quốc Tổ. Tiền nhân đã chọn ngày mùng 10 tháng 3 để Giỗ Tổ là có tính toán có chủ đích, vì ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch có liên quan đến quan niệm Vũ Trụ Quan đồ sộ mà Tiền Nhân từ thời khai quốc đã để lại.

Ngày Giỗ Quốc Tổ nhằm vào mùng 10 tháng 3 thường được giải thích cho đó là ngày Tiên tháng Rồng, nhắc nhở đến nguồn gốc Tiên Rồng của Âu Cơ và Lạc Long Quân. Lời giải thích đó, xét ra không mấy thuyết phục. Tháng 3 là tháng Thìn cho là tháng Rồng là đúng, vì Thìn là rồng. Còn ngày mùng 10 gọi là ngày Tiên vì cho ngày đó là ngày Dậu, Dậu là Gà, gà thuộc loài chim, biểu tượng cho Tiên. Nhưng mùng 10 tháng 3 không phải năm nào cũng trùng vào ngày Dậu, như năm Ất Dậu 2005, ngày mùng 10 tháng 3 nhằm vào ngày Nhâm Thân, năm Bính Tuất 2006, ngày mùng 10 tháng 3 nhằm ngày Bính Dần. Như thế giải thích ngày mùng 10 tháng 3 là ngày Tiên tháng Rồng không mấy thích hợp.

Phải tìm lối giải thích khác cho hợp với chủ đích của Tiền Nhân đã chọn ngày mùng 10 tháng 3 làm lễ Giỗ Tổ. Thử tìm về cơ chế Lý Số để tìm hiểu ý nghiã ngày Giỗ Tổ.

Ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ Hành, Lịch pháp, Lạc Thư Hà Đồ, Hồng Phạm Cửu Trù và Dịch số:

   Lịch Pháp :     Tháng 3 là tháng thứ 5 của Lịch pháp, thuộc tháng Thìn.
 Âm Dương : Số 10 thuộc độ số Âm, 10 chấm đen trong trung cung Hà Đồ.

Âm tượng cho Tiên.
Số 5 thuộc độ số Dương, 5 chấm trắng trong trung cung Hà Đồ.

Dương tượng cho Rồng.

  Ngũ Hành: Trung cung Hà Đồ thuộc hành Thổ. Thổ màu vàng, màu của quân vương.

  Lạc Thư Hà Đồ :       Độ số 5 và 10 thuộc trung cung Hà Đồ.

  Hồng Phạm Cửu Trù : Trù thứ 5 của Hồng Phạm Cửu Trù là Hoàng Cực, chỉ ngôi vua ở nơi cao nhất và các đức tính phải noi theo trong việc trị nước.

Như vậy :

Tháng 3 là tháng Thìn, tượng cho Rồng, Rồng chỉ sức mạnh của thiên nhiên, vũ trụ. Rồng là biểu tượng cho vương quyền. Rồng, nhớ đến Lạc Long Quân.

Tháng 3 gọi là tháng Thìn vì tính từ tháng Tý bắt đầu từ tháng Một (11) năm trước, đến tháng 3 là đúng 5 tháng, ứng với độ sộ 5 của Trung cung Hoàng cực Hà Đồ.

Ngày mùng 10 ứng với độ số 10 Âm của Trung cung Hoàng cực Hà Đồ.

Tháng 3 ứng với độ số 5 Dương của Trung cung Hoàng cực Hà Đồ.

Tháng có trước nên ứng với số Dương 5.
Ngày có sau nên ứng với số Âm 10.

Đó là nguyên lý mà Tiền Nhân đã chọn ngày mùng 10 tháng 3 làm ngày Giỗ Tổ.
Xin xem bản minh họa dưới đây để nắm vững ý nghĩa :

Lịch Pháp

Tháng một-11 Tháng chạp-12  Tháng giêng   Tháng hai   Tháng ba
          Tý        Sửu       Dần       Mẹo      Thìn
          1          2         3         4         5

 

   Một năm tính theo thập nhị địa chi (12) thì tháng Tý bắt đầu từ tháng Một (11) năm trước. Tháng Chạp (12) là Sửu. Tháng Giêng là Dần. Tháng Hai là Mẹo. Tháng Ba là Thìn. Tháng Tư là Tỵ. Tháng Năm là Ngọ. Tháng Sáu là Mùi. Tháng Bảy là Thân. Tháng Tám là Dậu. Tháng Chín là Tuất. Tháng Mười là Hợi và tháng Một là Tý….

Tháng Ba là Thìn, nhằm tháng thứ 5 tính theo Thập nhị địa chi.

 

                                         Trung Cung  Hà Đồ

2-7 Hỏa

2 7 4  Ki
 3  5 – 10
Thổ
  9
Mộc 8    1   6

1-6 Thủy
Số 10 của Trung cung Hà Đồ thuộc Âm vì có 10 chấm đen, lấy làm ngày.
Số 5 cùa Trung cung Hà Đồ thuộc Dương vì có 5 chấm trắng, lấy làm tháng.
Số chẳn là Âm. Số lẻ là Dương.

Dịch số :   Số 10 ở trung cung Hà Đồ thuộc Âm. Âm ở Dịch là Quẻ Khôn. Quẻ Dịch chỉ có 6 hào nên lấy hào 5 ( vì 2 x 5 = 10 ) để  đoán quẻ. Hào 5, Lục Ngũ của Quẻ Khôn (6/5), hào từ nói : Hoàng thường, nguyên cát.(Mặc xiêm vàng sẽ được đại lợi). Màu vàng thuộc Thổ, màu của quân vương. Mặc xiêm vàng ý nói bậc quân vương  mặc màu vàng.

Số 5 ở trung cung Hà Đồ thuộc Dương. Dương ở Dich là Quẻ Càn (Kiền). Hào 5 của Quẻ Càn là hào Cửu Ngũ (9/5). Hào từ nói : Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân. (Rồng bay trên trời, nên gặp đại nhân). Đây là hào rất tốt xưng tụng quân vương như rồng bay trên trời. Cửu Ngũ chỉ ngôi vua.

Mùng 10 tháng 3 (tháng thứ 5) theo Dịch là Quẻ đại cát : Địa Thiên Thái.

 

Mùng 10  thuộc Âm, Quẻ Khôn ___  ___
___  ___
___  ___
Tháng thứ 5 (tháng 3) thuộc Dương, Quẻ Càn ______
______
______

Khôn trên Càn dưới là Quẻ Địa Thiên Thái. Thiên địa giao thái(Trời đất giao hòa). Thoán từ nói : Thái, tiểu vãng, đại lai, cát hanh(Âm tiêu Dương trưởng, tốt đẹp, thuận lợi). Thái là thông xuốt. Đất ở trên chìm xuống, trời ở dưới vươn lên. Hai khí giao hòa làm cho vạn vật sinh trưởng, đất nước hanh thông. Nội Dương ngoại Âm, nội kiện ngoại thuận, nội quân tử ngoại tiểu nhân.

Ngày Giỗ Quốc Tổ mùng 10 tháng 3 đã làm chuyển động cả hệ thống Vũ Trụ Quan, Nhân Sinh Quan từ Âm Dương, Ngũ Hành, Lạc Thư. Hà Đồ, Lịch số, Dịch số và Hồng Phạm Cửu Trù. Tiền nhân đã chọn ngày 10 tháng 3 mừng lễ Giỗ Quốc Tổ là để xưng tụng công đức của Tổ Phụ, ca tụng ngôi Cửu Ngũ  Hoàng cực của Quốc Tổ. Chọn ngày mùng 10 tháng 3 làm ngày Giỗ Tỗ là để đem lại cho quốc thái dân an, cho nòi giống Lac Hồng mãi mãi trường tồn cùng sông núi.

Chọn ngày mùng 10 tháng 3 làm ngày Giỗ Tổ, tiền nhân chứng tỏ hệ thống Lý Số Vũ Trụ Quan, Nhân Sinh Quan từ Thái Cực, Âm Dương, Ngũ Hành, Lạc Thư, Hà Đồ, Lịch pháp, Dịch Số, đến Hồng Phạm Cửu Trù là của Việt tộc do các bậc Thánh nhân dòng Việt sáng tạo ngay từ thời thượng cổ,  thời lập quốc.

Mỗi năm đến ngày Giỗ Tổ, con cháu Lạc Hồng thành kính dâng lễ vật, ca tụng công đức Tổ Tiên để nhớ công ơn các Ngài, ra sức giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ, đưa đất nước đến phú cường thịnh vượng, làm vẻ vang nòi giống. Quốc Tổ đã để lại một giải non sông gấm vóc này cho toàn dân, mọi người đều bình quyền, không một ai hay một tổ chức nào có quyền tự nhận là chủ nhân độc quyền bắt người khác phải phục tùng như tôi tớ nô lệ.*

 Đông Biên

Nguồn: http://www.nguoidanbinhthuong.org

Nhóm mạng Việt Nam Văn Hiến
Trang : Ngày Giỗ Tổ
http://www.vietnamvanhien.net
http://www.vietnamvanhien.org
http://www.vietnamvanhien.info
http://www.vietnamvanhien.com