VÕ ĐẠI TÔN – NGÀY BUỒN VIỆT NAM

https://youtu.be/3GhzpTDUKNk

Advertisements

TƯỞN NIỆM TRIẾT-SỬ GIA LƯƠNG KIM ĐỊNH

|
Lương Kim Định (1914-1997)

TƯỞNG NIỆM
TRIẾT-SỬ GIA LƯƠNG KIM ĐỊNH (1914-1997)
Ngày 28 Tháng 2 Việt Lịch

 

Nam Phong tổng hợp

Mục Lục

Tiểu Sử Triết – Sử Gia Lương Kim Định Trang 1
Kim Định Cuộc Đời Và Tư Tưởng  –  Hồ Phú Hùng 7
Cuộc Luận Chiến … Tư Tưởng Kim Đinh –  Lê Minh Khai 27
 Sử Gia Lớn Nhất (Không Được Biết…) Của Việt Nam –  Lê Minh Khai 31
GS Kim Định Người Khởi Nguồn Học Thuyết  Triết Việt – Huy Văn 34
Người Cả Đời Tìm Triết Lý Trên Trống Đồng Đông Sơn – Dương A.Phát 36
Những Sai Lầm Ngộ Nhận Về Cố Triết Gia Kim Định – Lê Việt Thường 39
Tưởng Nhớ Triết Gia Kim Định Nhân Kỷ Niệm 100 Năm Ngày Sinh 43
Lương Kim Định Một Sĩ Phu Lớn Của Thế Kỷ XX – Nguyễn Khắc Mai 46
Hành Trình Kim Định và An Việt – Vũ Khánh Thành 50

 

 
Triết-Sử gia LƯƠNG KIM ĐỊNH sinh ngày 15.6.1914 tại Trung Thành, Nam Định. Sau khi tốt nghiệp triết học tại Giáo Hoàng Chủng Viện Sait Albert Le Grand, ông dạy triết tại Đại Chủng Viện Bùi Chu (1943-1946). Năm 1947, ngài sang Pháp 10 năm nghiên cứu về triết học tại Institut des Hautes Etudes Chinoise để thâu thập tài liệu xây đắp nền triết lý Việt Nam. Trở về nước năm 1957, ngài dạy triết Đông tại Học Viện Lê Bảo Tịnh, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh và Đại Học Đà Lạt.

Từ năm 1960, triết gia bắt đầu cho ra mắt một loạt những cuốn sách về triết Việt, mở đầu là cuốn Cửa Khổng, Triết Lý Giáo Dục, Nhân Bản, Căn Bản Triết Lý Trong Văn Hóa Việt Nam . . . Học giả Linh Mục Vũ Đình Trác viết về công trình của ngài như sau:

“Nhờ công phu mở đường trở về triết Đông của Giáo Sư Bửu Dưỡng và Nguyễn Văn Thích cũng như tâm huyết của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, chương trình triết học Đông Phương được khai giảng tại Đại Học Văn Khoa Sàigòn năm 1958. Sẵn đường trở về Đông Phương, triết gia Kim Định tiện đường, đơn thương độc mã, ông lên một nước táo bạo, mở đường đi vào Triết Lâm Việt Nam. Trong suốt 16 năm trời tại giảng đường Đại Học Văn Khoa Sàigòn, giáo sư đã ảnh hưởng sâu rộng cho cả một thế hệ thanh niên và sinh viên. Mặc dầu bao chống đối, ông đã im lặng xây dựng một hệ thống Việt Nho khá trung thực và hấp dẫn. Không ai có thể chối cãi công phu xây dựng và ảnh hưởng sâu rộng của ông trong lãnh vực văn hóa dân tộc. Từ Đại Học Văn Khoa Sàigòn, ông mở rộng mặt trận tới các Đại Học khác: Đại học Đà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Đức, Thành Nhân và An Giang. Chính trong giai đoạn này ông đã sáng lập chủ thuyết AI VI và ViỆT NHO”.

Nhận định về địa vị của triết gia Kim Định trên trường Việt Nho, Việt Triết – học giả Linh Mục Vũ Đình Trác còn viết như sau:

“Nhờ công khai thác và biên khảo, sáng tác của giáo sư, những bậc thức giả khắp nơi đã suy tôn ông là Triết Gia Việt Nam. Aûnh hưởng Việt Triết và Việt Nho của ông đã gây ý thức cho người Việt khắp nơi nhìn lại thực tại văn hóa của mình. Các đồ đệ của ông đã đáp ứng nguyện vọng của Thầy để khai thác và phổ biến Việt Lý của Thầy qua tổ chức AN VIỆT. Các nhóm An Việt được thành lập khắp nơi: San Jose, Orange, Houston, Louisiana, Washington DC, Philadelphia, Seattle, và tại Canada, Uùc Châu, Anh, Pháp, Đức v.v … An Vi đã như một luồng gió dân tộc bùng lên khắp nơi có người Việt định cư. Các nhóm này coi Triết Gia Kim Định như bậc Đại Sư, mà họ tôn làm Tổ: TỔ SƯ AN VI, TỘC PHỤ AN VIỆT. Aûnh hưởng của Triết Gia không những thế mà còn lan rộng tới các học giả, triết gia ngoại quốc: Âu Mỹ và khối Viễn Đông”.

Năm 1987 hội nghị Quốc Tế về “Khổng Học Với Thế Giới Ngày Nay” (International Symposium on Confucianism and the Modern World) tổ chức tại Đài Bắc, Đài Loan, qui tụ 400 học giả khắp thế giới. Triết gia Kim Định cùng với Lm Vũ Đình Trác đã thuyết trình đề tài “Đạo Trường Chung Cho Đông Nam Á” (A Tao-Field for South East Asia). Bài tham luận do Giáo Sư Trần Văn Đoàn, Giáo Sư Đại Học Quốc Gia Đài Loan trình bày (Professor of Philosophy at Taiwain National University). Đề tài này đã gây tiếng vang rất lớn trong giới Nho Lâm Á Châu.
Sau đó ngài còn tham dự Hội Nghị Triết Học tại Brighton Anh Quốc năm 1988 (The World Congress of Philosophy) – Hội Nghị Triết Học Á Châu và Bắc Phi lần thứ 33 tại Toronto Canada năm 1990 (The XXXIII International Conference on Asian and North African Studies). Ngài nói với các đồ đệ; “Thầy phải đi để nói cho thế giới biết con người, tư duy và đạo sống cao đẹp của dân tộc Việt Nam”.

Nguyễn Ngọc Bích, giáo sư Đại Học Georgetown, Washington DC, viết về triết gia Kim Định trong báo Ngày Nay, số 121:

“Trong nỗ lực đi tìm một con đường Việt Tộc, Nhân Chủ, Tự Do, thì chúng ta phải kể ở hàng đầu công trình đồ sộ của triết gia Kim Định. Ở đâu ông cũng thế, không phải sang Mỹ ông mới tìm “về nguồn”. Việc làm của ông trong một tình cảnh mất mát vô biên, chẳng qua cũng chỉ là nối tiếp công việc của ông đã bắt đầu khi còn ở trong nước, khi còn ở Miền Nam tự do. Từ năm 1962 tới nay, ông đã hoàn tất được 23 cuốn triết học, tương đương với 7000 trang, một mảng tư tưởng mà không dễ mấy triết gia có thể so sánh được. Sự độc đáo ở nơi ông cũng đã là một truyện quá rõ – dầu ta có đồng ý với ông hay không, thì ta cũng không thể phủ nhận được tính cách độc đáo của tư tưởng ông. Ngày nay tham vọng cuối cùng của triết gia Kim Định là sẽ dựng xong một bộ Kinh (hiểu theo nghĩa Bible) cho dân tộc ta. Để thực hiện tham vọng này, ông đã cho in hoặc đang in năm cuốn thuộc bộ “Ngũ Kinh Khải Triết”, đó là: Hùng Việt Sử Ca, Kinh Hùng Khải Triết, Pho Tượng Đẹp Nhất Của Việt Tộc, Sứ Điệp Trống Đồng, Văn Lang Vũ Bộ (số lớn do nhà in H.T KELTON xuất bản). Nếu ai hỏi tôi rằng có nên đọc hay không, thì tôi xin thưa ngay: dứt khoát là có. Tại sao ? – Tại vì nếu ta không nhất thiết đồng ý với hết cả ý kiến của ông, ta cũng sẽ được làm thân với một trong những bộ óc triết lý lớn nhất nếu không của nhân loại thì cũng của Việt Nam. Tôi nói điều này trong sự cân nhắc, cũng không khác gì câu tôi sẽ trả lời cho người nào hỏi: Có nên đọc Platon hay Aristote không ? Đã nhất thiết gì ta đồng ý với Platon trong tác phẩm La République, nhưng ai không đọc tác phẩm đó, thì chắc chắn mất đi một mảng hiểu biết rộng lớn về triết học Tây Phương. Cũng như vậy, ai không đọc Kim Định cũng không sao, ông sẽ từ tốn mà “an vi”, để chờ một ngày kia người nọ sẽ tỉnh mộng mà trông thấy hết cả cái mất mát của mình”.

Triết gia Kim Định từ trần ngày 25 tháng 3 năm 1997, nhầm ngày 28 thàng năm Đinh Dậu  tại dòng Đồng Công hải ngoại, Carthage, Missouri, Hoa Kỳ, hưởng thọ 83 tuổi. Ngài để lại cho đời bộ triết Việt Nho và An Vi, gồm 42 cuốn để giúp cho dân tộc có Chủ Đạo để tránh cảnh vô hướng vô hồn và giúp cho dân tộc có một Minh Triết để sống an vui hạnh phúc giữa Trời và Đất.

Triết Gia Lương Kim Định (1914-1997)

( ảnh minhtrietviet.net)

 

 

 

Danh Sách Tác Phẩm của Kim Định

(bấm vào tựa sách đọc tiếp)

Cửu Khâu
(9 đồi nhỏ – Những vấn đề thiết yếu)
1 – 1 .Nguyên Nho (Cửa Khổng)
2 – 2. Triết Lý Giáo Dục
3 – 3. Nhân Chủ
4 – 4. Hồn Nước Với Lễ Gia Tiên
5 – 5. Chữ Thời
6 – 6  Vũ Trụ Nhân Linh
7 -7. Lạc Thư Minh Triết
8 – 7. Định Hướng Văn Học
9 – 8. Loa Thành Đồ Thuyết
10- 9. Tâm Tư
278 trang
190 trang
306 trang
321 trang
700 trang
230 trang
149 trang
237 trang
187 trang
348 trang
Ra khơi
Ca Dao
Thanh Niên QG
Nam Cung USA
Thanh Bình
Khai Trí
Nguồn Sáng
Ra Khơi
Thanh Bình
Khai Trí
1965
1975
USA
1979
1967
1969
1971
1969
1973
1970
 

 

 

Bát Sách
(8 quẻ – nền tảng cho nhiều sách sau này)

11 – 1.Việt Lý Tố Nguyên
12 – 2. Dịch Kinh Linh Thể
13 – 3. Triết Lý Cái Đình
14 – 4. Vấn đề Nguồn Gốc Văn Hóa VN
15 – 5. Vấn Đề Quốc Học
16 – 6. Hiến Chương Giáo Dục
17 – 7. Cơ cấu Việt Nho
18 – 8. Tinh Hoa Ngũ Điển
430 trang
170 trang
188 trang
139 trang
157 trang
155 trang
285 trang
192 trang
An Tiêm
Ra Khơi
Nguồn Sáng
Nguồn Sáng
Nguồn Sáng
An Tiêm
Nguồn Sáng
Nguồn Sáng
1970
1970
1971
1973
1973
1970
1972
1973
 

Ngũ Luận
(Kinh điển – Minh Triết Việt)

19 – 1. Hùng Việt Sử Ca
20 – 2. Kinh Hùng Khải Triết
21 – 3. Pho Tượng Đẹp Nhất Của Việt Tộc
22 – 4. Sứ Điệp Trống Đồng
23 – 5. Văn Lang Vũ Bộ
272 trang
241 trang
226 trang
431 trang
251 trang
Thằng Mõ San Jose
Thanh Niên QG
HT Kelton
Thanh Niên QG USA
H.T Kelton USA
1984
USA
USA
1984
1982
 

Tam Phần
(Chơn dấu bảo vật dân tộc)

24 – 1 .Đạo Trường Chung Cho Đông Á
25 – 2. Phong Thái An Vi
26 – 3. Trùng Phùng Đạo Nội
111 trang
230 trang
174 trang
An Việt Houston
An Việt Houston
Vienamvanhien.net
1987
2000
 

 

 

Thái Bình
(Mở rộng khắp Thái Bình Dương)

27 – 1 .Những Dị Biệt Triết Lý Đông Tây
28 – 2. Hoa Kỳ &Thế Chiến LượcToàn Cầu
29 – 3. Cẩm Nang Triết Việt
30 – 4. Hưng Việt
31 – 5. Thái Bình Minh Triết
32 – 6. Gốc Rễ Triết Việt

33 – 7Việt Triết Nhập Môn

222 trang
185 trang
80 trang
125 trang
225 trang
180 trang

174 trang

Ra Khơi
An Việt Úc Châu
An Việt Houston
An Việt Houston
Thời Điểm
An Việt Houston

An Việt Houston

1969
1986
1987
1987
1997
1988
1988

 

Nguồn: http://www.vietnamvanhien.org/kimdinh.html

 

 

Kim Định: Cuộc đời và tư tưởng

 

HỒ PHÚ HÙNG

Thứ bảy, 25 Tháng 7 2015 21:06

 

Giáo sư Kim Định tên thật là Lương Kim Định, là triết gia, linh mục Công giáo. Sinh ngày 15/6/1915 tại địa phận Bùi Chu, làng Trung Thành, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông là con trai út trong gia đình, thân phụ mất từ khi ông mới một tháng tuổi. Nhờ công dưỡng dục và nhìn xa trông rộng của người mẹ hiền, ngay từ thưở còn nhỏ, ông được gửi vào chủng viện Bùi Chu. Tại chủng viện Bùi Chu, ông được hưởng một nền giáo dục toàn diện, về đạo đức cũng như về học vấn. Với bản tính ham tìm tòi học hỏi, ngoài những môn học khác và ngôn ngữ La Tinh, ông đã tự học thêm chữ Nho và Pháp văn. Sau những năm tháng say mê và  miệt mài học tập, ông được bề trên phân công giảng dạy tiếng La Tinh tại Tiểu chủng viện Ninh Cường, Bùi Chu  từ năm 1937 đến năm 1939.

Từ năm 1939 đến năm 1943, ông học thần học tại Đại chủng viện Quần Phương, Bùi Chu và triết học tại Giáo hoàng Học viện Saint Albert le Grand, Paris. Năm 1943, sau khi tốt nghiệp triết học, ông được thụ phong linh mục và giảng dạy triết học tại Đại chủng viện Quần Phương, Bùi Chu đến năm 1946. Năm 1947, ông sang Pháp 10 năm để nghiên cứu về triết học, xã hội học và văn minh Pháp tại Institute Catholic de Paris. Trong quãng thời gian này, ông còn theo học về Nho giáo tại Institute des Hautes Études Chinoise (Viện Cao học Hán học).

Trong thời gian ở Paris, nhiều bạn bè người Pháp đã đặt ra những câu hỏi cho ông: “Việt Nam có triết lí không?”,“Các anh có nghĩ đến việc thiết lập một nền Thần học Việt Nam chăng?”… Vào thời điểm này, một số linh mục người Pháp cũng đưa ra vấn đề tìm hiểu và giải nghĩa Kinh Thánh theo tinh thần của của triết học Á Đông. Đại diện cho xu hướng này là linh mục Folliet thuộc dòng Oratorie. Sau này, trong bài Để tiến tới một nền Thần học Việt (Dân Chúa, 12/1982), ông đã kể lại lời phát biểu của linh mục Folliet viết trong cuốn Monsieur Pouget như sau: “Hiện nay người Âu Tây chưa hiểu đúng Kinh Thánh. Sách Thánh xuất phát từ Á Đông, phải do người Á Đông giải nghĩa thì mới mong đúng tinh thần của sách”.

Trong bầu không khí tinh thần này, ông đã âm thầm nuôi dưỡng một hoài bão lớn là thu thập tất cả tinh hoa của Đông – Tây, hòng xây đắp một nền Triết lí Việt Nam và một nền Thần học Việt Nam. Sau một thời gian tìm tòi và nghiên cứu, ông nhận ra rằng, muốn giải quyết vấn đề Thần học Á Đông thì trước tiên phải tìm cho ra cái tinh thần Á Đông rồi mới mong giải thích Kinh Thánh theo tinh thần Á Đông, và xa hơn nữa là thiết lập một nền Thần học Việt Nam. Vì lí do này, ông đã quay về nghiên cứu tư tưởng Phương Đông: đầu tiên là triết học Ấn Độ, triết học Phật giáo và cuối cùng là Nho giáo. Riêng về Nho giáo, ông đã nghiên cứu thấu đáo về Hán Nho, cho đến Nguyên Nho (Nho giáo Nguyên thủy) và cuối cùng là Việt Nho (Nho của người Lạc Việt). Nhờ có thời gian rộng rãi, nhờ vào nguồn tư liệu phong phú và quý báu từ Thư viện Quốc gia Paris, Văn khố sử liệu về Việt Nam tại Mission Eutrangères de Paris và tư liệu có sẵn tại Viện Cao học Hán học, ông đã lần mò và tìm ra được kho ong chôn dấu triết lí và nguồn gốc dân tộc Việt Nam.

Con đường tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu và sáng tạo của ông về triết lí Nho giáo, về văn hóa và triết lí Việt Nam được thai nghén từ khi ông còn ở Paris, thực hiện khi về lại Việt Nam và sau đó là kéo dài cho đến khi ông về cõi vĩnh hằng. Sinh thời ông bảo rằng, khi còn ở Paris, học giới đã tặng cho ông danh hiệu là Petit Confucius (ông Khổng Tử Nhỏ).

Năm 1957, ông về nước với tâm nguyện đem những chất liệu đã thâu thái xây đắp một nền triết lí hoàn toàn Việt Nam. Từ năm 1957 đến năm 1960 ông dạy triết học Đông tại Học viện Lê Bảo Tịnh, Sài Gòn. Khi Học viện Lê Bảo Tịnh được sáp nhập vào địa phận Sài Gòn thì ông bơ vơ không chỗ dựa, bởi sở học của ông không cho phép ông đi làm linh mục ở một xứ đạo. Trong giai đoạn này ông phải nhờ một số học trò cưu mang mình.

May mắn thay, cũng vào năm 1960, ông được Đại học Văn Khoa Sài Gòn mời dạy triết học Đông Phương. Lúc đó triết Đông chưa được chính thức thừa nhận ở bậc đại học, nên trong ba, bốn năm đầu ông chỉ hưởng lương theo giờ dạy. Giai đoạn này, ông vừa giảng dạy theo giáo trình hàn lâm về Nho giáo vừa cho xuất bản những tác phẩm của mình.

Tại Đại học Văn khoa, dòng tư tưởng của ông đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với sinh viên, sinh viên đã theo học ông rất đông. Ông đã ong ánh sáng mới lạ của những ngành triết học và khoa học nhân văn hiện đại để soi rọi tận nẻo âm u của kho ong cổ học Việt Nam. Những nguồn ánh sáng của Triết học Hiện sinh của Nietzsche, Jaspers và Heidegger, Phân tâm học miền sâu của Carl Jung, Cơ cấu luận của Levis Strauss, Khảo cổ học… đã được ông sử dụng thành những công cụ hữu hiệu cho công cuộc khai sơn phá thạch này.

Nhận thấy công việc đánh giá lại triết thuyết của Khổng Tử là một tình thế hết sức cấp bách nên năm 1965 ông đã cho xuất bản tác phẩm Cửa Khổng (Nguyên Nho). Trong lời tựa của Cửa Khổng, ông cho biết: “Nếu đúng theo dự tính của tác giả thì chúng còn bị cất kín trong tủ dăm mười năm nữa để được suy tư cho thành thục rồi mới nghĩ tới xuất bản. Bởi viết triết lý đòi hỏi phải như thế. Hiếm vì số sách tham khảo về triết Đông còn nghèo nàn và hiếm hoi thái quá nên tôi đành thể theo lời yêu cầu khẩn khoản của một số sinh viên và bạn hữu cho xuất bản với những khuyết điểm của chúng để góp tài liệu vào một bộ môn mà chúng tôi có tham dự, một phần hướng dẫn sinh viên trong việc nghiên cứu.”(1)

Cửa Khổng đã đưa ra những kiến giải mới mẻ và tiến bộ về triết lí Nho giáo mà trước nay ở Việt Nam người ta chỉ gọi học thuyết này là Nho học hoặc Khổng học. Ông cho rằng, triết lí là một nỗ lực tinh thần để con người thoát khỏi tình trạng vong thân và thâu hồi lại quyền tự chủ của mình trước các thế lực thần quyền cũng như thế quyền ở bên ngoài. Triết lí Nho giáo đã đạt được mục đích là giải quyết được những vấn đề căn bản trên, vì vậy nó là một nền triết lí nhân bản tâm linh trung thực nhất.

Thật là chí lí khi ông cho rằng triết lí Nho giáo luôn luôn xem trọng yếu tố con người và đạo làm người: “Sự thường người ta không ý thức nổi tầm cao trọng của con người cho nên chưa coi đạo nhân là cao trọng và xa vời đủ, bởi vậy thường quay ra tìm hiểu về trời đất quỷ thần vốn chiếm chỗ cao hơn trong óc của họ, vẫn được suy tôn là xa vời và thần diệu hơn người nhiều, vì thế số phục vụ cho con người  trọn vẹn từ đầu đến cuối trở nên hiếm hoi so với số người phục vụ cho thế lực khác…”(2).

Trước trào lưu phát triển mạnh mẽ và thành công của thế giới phương Tây, nhiều trí thức thuộc thế hệ trước của Trung Hoa vô cùng oán hận Khổng giáo, họ cho rằng sự thất bại của đất nước Trung Hoa trong thời cận đại là do di sản của Khổng Tử nên đã đổ tất cả tội lỗi lên đầu ông. Bằng những lập luận vững chắc và hết sức thuyết phục của mình trong Cửa Khổng, ông đã minh oan được cho Khổng Tử và Khổng giáo. Để minh chứng điều này, ông dành nguyên một chương có nhan đề “Những ấn tích Triết lý Khổng lưu lại trên đời sống hiện đại của Tây Âu”. Trong chương này, ông cho biết các học giả có uy tín tại Tây Âu từng nói về sự ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử  đối với công cuộc giáo dục và sự tiến bộ trong xã hội của họ – bắt đầu từ thế kỉ XVIII.

Năm 1965 Nhân Bản ra đời nhằm đặt nền móng và khơi lại lòng mến mộ cho đạo làm người. Đây là tác phẩm mở đầu cho lộ trình tư tưởng của ông trên con đường sáng tạo ra nền Triết lí An Vi. Cũng bắt đầu từ đây, ông âm thầm khai quật, hệ thống hóa và liên tục công bố những công trình triết lí cũng như văn hóa Việt Nam trong suốt giữa thập niên 1960 cho đến đầu năm 1975.

Nhân Bản tiếp tục đề cao địa vị và cứu cánh của con người trong vũ trụ nhân linh, một ngôi vua trong ba ngôi vua “Thiên – Địa – Nhân” (Tam Tài). Ông đưa ra khái niệm thiên khởiđịa khởi và nhân khởi để đối chiếu, so sánh về vấn đề quan tâm của các nền văn hóa khác nhau như Hi Lạp, Âu Tây và Viễn Đông. Ông đi từ thần thoại Hi Lạp, đến triết học duy lí của Âu Tây, cho đến nhân thoại của Viễn Đông để cuối cùng đưa ra kết luận rằng, không có ở đâu mà con người được đề cao như ở Viễn Đông, quê hương của nền triết lí nhân bản tâm linh. Ông đã mượn bài thơ Vịnh Tam Tài của nhà Nho, nhà cách mạng Trần Cao Vân để lập luận của mình thêm phần mạnh mẽ. Trước khi bàn về bài Vịnh Tam Tài, ông đã đánh giá bài thơ như sau: “Quả là một bài thơ triết lý có tầm xích mênh mông như vũ trụ. Cái tài tình của bài thơ là tự đầu chí cuối Trời, Đất, Người luôn luôn cùng xuất hiện “ba mặt một lời xoắn xuýt trong nhất thể u linh”(3)

Tại sao nền triết lí mà ông xiển dương được gọi là An Vi? Ông cho biết: “Thuật ngữ an-vi không có trong triết Đông, nhưng chúng ta có thể ong tài-liệu như những câu: “thân lao nhi tâm an, vi chi”身勞而心安爲之(Tuân Tử: thân xác nhọc mà lòng an thì cứ làm) để đưa ra thuật ngữ an-vi, tương đương với an hành. Vô vi sẽ là đối cực với hữu vi, cả hai còn ở trong bình diện nhị nguyên, còn an vi sẽ chỉ tâm thức nhất-nguyên lưỡng-cực vượt ra khỏi nhị-nguyên, không hữu cũng như vô, không chống đối nhưng là thâu hóa. Nói an-vi là trong trường hợp đi với hữu vi vô vi. Còn nói chung thì nó là đợt trung dung: “hữu nhược vô, thực nhược hư” (LN. VIII. 6) 有若無實若虛 có mà như không, thực mà như giả. Đấy là một đợt phải tế vi lắm mới đạt được, vì nó rất mong manh bé nhỏ vô ý một chút là ngả sang hữu hoặc vô.”(4). Như vậy,  An Vi chính là quân bình động đích giữa Hữu Vi và Vô Vi.

Nốitiếp công việc chưa làm xong của Nhân Bản,  năm 1967 ông cho xuất bản Chữ Thời. Chữ Thời là tác phẩm bàn về siêu hình Kinh Dịch. Ông cho rằng siêu hình Tây Phương là hoàn toàn trừu tượng, siêu hình Viễn Đông tuy cũng trừu tượng nhưng lại đâm rễ cụ thể xuống các thể chế như lịch pháp, thiên văn… Đó là phương thức đem triết lý vào cấu trúc của xã hội và cải hóa tâm tính con người. Lời giới thiệu sách của ông tuy ngắn đã nói lên được cốt tủy của Chữ Thời, vì vậy tôi trích dẫn lại hoàn toàn:

“Muốn hiểu biết thêm về con người, cần phải biết địa vị của con người trong trời đất, trong vũ trụ, hay nói theo tiếng mới trong không thời gian.

Nhận thấy cơ cấu thời-không cũ đang sụp đổ, tác giả đi gõ cửa những nhà khoa học lớn như Einstein với thuyết tương đối trình bày thời gian như chiều kích thứ tư của vạn vật… rồi đi gõ cửa các triết gia hiện đại nhất là Heidegger tác giả cuốn “Hữu thể và Thời gian”. Sau đó trở lại với Đông Phương khảo sát quan niệm Chữ Thời trong Kinh Dịch, Kinh Thư. Chúng ta sẽ  được thích thú nhận ra sự gặp gỡ Tây Đông trên cấp bậc tối thượng. Chúng ta sẽ hào hứng khi khám phá ra nền siêu hình sâu thẳm tiềm ẩn trong Tam Tài, Ngũ Hành, Hồng Phạm, Thái Thất… với nền triết lý của lịch pháp Đông Phươngđặt nền móng cho huyền sử, cung ứng chìa khóa để mở kho ong bí ẩn của Văn hóa nước nhà hầu xây đắp một nền triết lý Việt Nam mới hợp cho cảm quan của con người thời đại.”(5)

Đây là một cuốn sách mang tính hàn lâm và thuộc vào loại khó đọc nhất trong toàn bộ tác phẩm của ông. Về sau, trong lời bạt của tác phẩm Căn bản triết lý trong văn hóa Việt Nam, ông bảo rằng, cuốn này là cuốn sách dễ nhất, ông hoàn thànhtrước kì hạn để bù lại cho Chữ Thời – một cuốn sách khó nhất trong bộ sách.

Tuy vậy, tác phẩm này cưu mang một sức mạnh tâm linh to lớn, nó đã làm thay đổi nhận thức của nhiều độc giả. Ông từng cho biết, nhiều người nhờ đọc Chữ Thời vài lần mà tự nhiên cảm thấy an nhiên, thanh thoát, và những biến cố ở đời hay cả vấn đề sinh tử cũng không còn nặng nề với họ như trước đây.

Năm 1969 ông cho xuất bản Những Dị Biệt Giữa Hai Nền Triết Lý Đông Tây. Với ông, tác phẩm này ghi lại kỉ niệm về một chặng đường mà ông đã đi qua mảnh đất Vô Vi của Ấn Độ. Mục đích của Những Dị Biệt Giữa Hai Nền Triết Lý Đông Tây là đánh động tâm thức người đọc để họ nhìn nhận lại giá trị tinh thần của Đông Phương.

Ở đây, ông đã đưa ra những nét đặc trưng của hai nền triết lý Đông – Tây, phân biệt rõ ràng giữa minh triết, triết lí, triết học và cho rằng triết học là cấp bậc thấp nhất về triết. Ông đã chứng minh một cách thuyết phục rằng, Đông Phương thiên về minh triết và triết lí, còn Tây Phương thì thiên về triết học. Ông đã đề cao sứ mệnh của Triết Đông trước sự đổ vỡ của nền triết học cổ điển Tây Phương, và cho rằng một triết gia Tây Phương ngày nay mà không biết gì đến triết Ấn Độ và Trung Hoa – ít ra về lập trường chung, thì bị ongà thuộc vào thời kì trước khi Colombo tìm ra Châu Mỹ.

Ông đã nêu cao địa vị của triết lí và văn hóa của Ấn Độ trong tư tưởng Tây Phương hiện đại. Từ cuối thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX, những tác phẩm kinh điển của Ấn Độ được lần lượt dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp. Những dịch phẩm này đã được giới trí thức, học giả, văn sĩ của Tây Phương đón nhận một cách nồng nhiệt, và nó đã ghi lại dấu ấn trên tâm thức của con người đương đại.

Tuy là linh mục Thiên Chúa giáo nhưng ông đã đề cao Tâm Đạo và cho đó là chìa khóa để mở kho ong truyền thống. Ông cũng là người đã say mê truyền thống tâm linh của Đông Phương, đoạn trích dẫn dưới đây sẽ cho thấy điều này:

“Bỏ Triết học Âu Châu bước vào Triết lý Đông Phương độc giả thường bị kích động do một bầu không khí mới mẻ gây ra do chữ Vô. Chữ Vô thường được nhắm như một lý tưởng, khác hẳn với triết học Thái Tây nhắm hữu vi. Vô vi của Lão Trang đã trở thành nhãn hiệu của đạo học. Dấn thân vào đời đến như Khổng mà còn tiếc xót cái “vô vi chi trị” và “Dư dục vô ngôn” coi như một lý tưởng cao hơn hữu vi, và Khổng Tử đã tu luyện cho đạt tới tứ vô (Tử tuyệt tứ: “vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã”). Bước vào Phật giáo lại càng rõ ràng: ở đây vô ngã được đẩy xa đến nghĩa bản thể, nghĩa là phủ nhận cái tự ngã. Và Phật Đại thặng còn đi xa hơn, không những thoát chấp ngã như Tiểu thặng, mà còn thoát luôn cả chấp Pháp nữa. Hàng trăm quyển “Minh triết siêu việt” (Prajna Paramita) đều xây trên chữ vô, bản “bát nhã tâm kinh” tóm lại cái tinh túy của bộ sách khổng lồ kia vào chừng hai trăm chữ thì trong số đó đã có tới ba chục chữ rồi. Cho nên người ta nói quyển kinh “Bát nhã” vắn nhất, chỉ có một vần (ekaksari) đó là vần A (VÔ). Thật là một kiểu tóm tài tình: Vì luận đề nòng cốt vẫn xoay quanh chữ VÔ ( A).

Thế nghĩa  là cái phần đặc sắc và quý nhất của Triết Đông lại là cái học lấy VÔ làm hồn sống. Vô cực đặt trên thái cực. Nhân sinh lý tưởng con người đặt ở VÔ: “Thánh nhân vô công, vô kỷ, vô danh” “Xử dân vô tri vô dục” (LÃO). “Đại nhân vô tư, dĩ đạo vi thể” (Nho: quẻ Kiền). Thánh Gandhi: “Tôi tự diệt cho đến số không” (Je me réduis à ong) là âm hưởng hiện thời lắp lại Ấn Độ giáo xưa xây trên Neti, Neti: không phải là cái này, không phải là cái kia. Bên SAT (hữu) còn có Asat: Vô hữu, cũng như trong phương pháp hành đạo lấy tĩnh lặng làm chủ.”(6)

Giáo sư Kim Định cho rằng nhờ khám phá ra con ong (số không) mà Ấn Độ đã đẩy toán học đi một bước thật xa, lập nên hệ thống thập phân và phát minh ra đại số. Sau này con số ong truyền sang Âu Châu qua ngả Ả Rập. Lúc ấy, không ai ngờ được ảnh hưởng của con ong đối với khoa học. Ngày nay, để đáp lại món quà khoa học kĩ thuật mà Âu Châu đã tặng cho nhân loại, Á Châu sẽ lấy gì để đóng góp? Ông đề nghị, Á Châu nên tiếp tục đóng góp con ong một lần nữa, bởi vì về mặt tinh thần thì sự đóng góp của nó sẽ còn cao quý hơn là đóng góp cho toán học trước đây. Với ông, dịch phẩm Tibetan Yoga and Secret Doctrines (Yoga Tây Tạng và Bí Pháp Thượng Thừa), chính là món quà quý báu mà học giả người Anh W. Y. Evant Wents đã đem về tặng cho Châu Âu. Ông nhấn mạnh: “Tất cả nhắc lại con ong đã nói trên kia, một con ong tinh thần hay là tâm đạo mà tôi cho là viên thuốc duy nhất có sức chữa được bệnh trạng nhân loại hiện nay.”(7)

Tâm Tư được xuất bản năm 1970, là gạch nối giữa Nhân Bản và Chữ ThờiNhân Bản dẫn đến con người toàn diện. Chữ Thời dẫn đến việc con người nhận ra cái tâm bao la như vũ trụ của mình. Tâm Tư là khoa Siêu lý của Viễn Đông, gọi theo ngôn ngữ Tây Phương là Siêu hình của Viễn Đông. Theo tôi, sở dĩ ông không ong từ siêu hình, bởi vì đã qua nhiều thế kỉ, nền triết học Âu Tây đã hiểu sai và ong sai từ siêu hình. Nhiều triết gia hiện đại của họ cho rằng siêu hình trong triết học của Tây Phương bắt đầu từ Aristote trở về sau là thứ siêu hình không đích thực. Tâm Tư là phương pháp suy tưởng bằng tâm; ong ý tưởng để nhận biết sự thật, ong tình thâm để cảm nghiệm được vẻ đẹp và nuôi dưỡng tâm hồn, ong chí khí để tu luyện hòng thể nghiệm được chiều kích vũ trụ nơi mình và nhận ra được cái Toàn Thể.

Trong lời tựa, ông đã nói về Tâm Tư như sau: “Khoa an tư hay tâm tư nhằm giúp vào việc nhận thức ra đáp ứng nhu yếu có tính cách vũ trụ của con người đại ngã Tâm linh, sự nhận thức đó cũng được gọi là Ý-thức-vũ-trụ hay là “Thiên địa chi tâm”. Người thường mới có thiên địa chi ý, chi tưởng nhưng chưa có thiên địa chi tâm. Để có được vũ trụ chi tâm thì cần rút bớt nghị lực ra khỏi ý, khỏi tưởng, của tướng đặng đầu tư vào việc hàm súc tinh luyện những mối tình vi tế cho tới khi nào thể nghiệm được qua thân tâm rằng mình cùng với vũ trụ cùng rung theo một tiết nhịp, lúc ấy mới trúng là “thiên địa chi tâm” và đó là chỗ hướng tới của kho tâm tư mà ta có thể gọi là “phép dịch hóa Thân tâm trụ”(dialectique cosme-psycho-somatique) được trình bày trong quyển này qua một hai lối hành xử, dăm ba câu nói, một hai bài thơ.”(8)

Đích điểm của Tâm Tư là “triêu văn đạo”. Triêu văn đạo là nghe Đạo trong ánh bình minh nguyên sơ, nghe được diệu âm từ miền sâu thẳm, tĩnh lặng. Khi đã ngộ đạo, tâm hồn con người an nhiên tự tại và rộng mở đến vô biên, tình yêu thì tràn đầy và tuôn trào lai láng. Vũ trụ không còn là cái gì xa cách, riêng rẽ mà đã trở thành một với mình.

Để chuẩn bị cho sự ra đời Việt Lý Tố Nguyên, ông cho xuất bản Căn bản triết lý trong văn hóa Việt Nam.Tác phẩm nàylà bước đầu cho hành trình trở về nguồn của ông. Ở Căn bản triết lý trong văn hóa Việt Nam, ông đã tìm ra được bóng dáng hồn nước qua lễ gia tiên, qua tiếng vọng của Văn Tổ và Văn Miếu và cũng nêu lên được sự khác biệt cơ bản giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa. Phương pháp huyền sử cũng bắt đầu manh nha tại đây. Đoạn viết sau sẽ cho chúng ta thấy ông đã bắt đầu đề cập đến nguồn gốc văn hóa và dân tộc Việt Nam: “Nếu ta đưa mắt tinh thần nhìn về quãng thời gian cách đây chừng 4000 năm mà nhìn đoàn người Lạc Việt di cư từ Hồ Động Đình, hay bờ ong Dương Tử để tiến xuống phía nam, thì chúng ta chắc thấy trong quang gánh của những tổ tiên xa xăm đã có quyển Kinh Dịch ít ra ở trạng thái phôi thai. Lúc đó chữ Nho cũng còn đang trong giai đoạn hình thành: có lẽ mới bỏ chặng thắt nút (kết thằng) để đi sang hình chữ con quăng mà ta thấy ong ở đời nhà Chu gọi là chữ khoa đẩu, sau đến đời Tấn Hán mới thay thế bằng chữ Lệ như ta thấy hiện nay”(9)

Việt Lý Tố Nguyên ra đời năm 1970, đánh dấu một giai đoạn sáng tạo vô cùng rực rỡ của ông. Tác phẩm này là tiếng sấm báo động cho một cơn mưa lạ, vì thế nó đã thu hút được sự chú ý của nhiều trí thức và sinh viên thời bấy giờ. Bằng ánh sáng của cổ sử, của khảo cổ học và trực giác siêu việt của một bậc hiền triết, ông đưa ra những kiến giải rất thuyết phục về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh việc tìm về nguồn gốc của dân tộc, ông công bố rằng, dân tộc Việt Nam đã có một nền minh triết sâu sắc và một nền văn hóa rực rỡ, khác hẳn với triết lí và văn hóa của Trung Hoa. Ngoài ra, Việt Lý Tố Nguyên cònlà cuốn sách thuộc loại “triết lí lịch sử” xuất hiện đầu tiên tại Việt Nam.

Trước khi Việt Lý Tố Nguyên được xuất bản,trong lời bạt của Những dị biệt của hai nền triết lý Đông Tây ông đã giới thiệu về nó như sau:

“Đây là quyển sách then chốt cho tất cả các quyển khác trong bộ đã ra và sẽ ra, nó quan trọng ngang với Chữ Thời về đàng sâu nhưng đi lối huyền sử nên dễ đọc hơn Chữ Thời rất nhiều, vì nó vận dụng rất nhiều huyền thoại của Viễn Đông để soi dọi vào nguồn gốc nước ta về các phương diện văn minh, văn hóa, dân tộc, thể chế, sử ký, địa dư, phong tục, tập quán, lễ giáo v.v… Nó sẽ trả lời cho những vấn đề chưa ai tìm được ra câu đáp: như dân tộc tính là gì? Đâu là những đặc tính của dân tộc Việt Nam. Nền văn hóa Việt Nam có những gì phát huy… Những vấn đề này thiếu phần đóng góp của triết lý sẽ không gặp được câu trả lời  thỏa đáng, chẳng hạn tại sao ca dao lại có địa vị quan trọng trong văn chương Việt? Hoặc Việt tộc đã đóng góp những gì cho nền văn hóa Viễn Đông? Ý nghĩa các danh hiệu nước ta (Xích Quỉ, Văn Lang, Giao Chỉ…) ý nghĩa tết mồng 5 tháng 5… Việt Lý Tố Nguyên sẽ dẫn độc giả vào những miền xa lạ mà cho tới nay chưa có học giả nào đặt chân đến, tuy vậy rất thiết cận đến tiền đồ tổ quốc chúng ta.” (10)

Đến khi xuất bản Việt Lý Tố Nguyên, ông còn giới thiệu thêm về tác phẩm này một lần nữa:

“Đây là công trình của một cuộc khảo cổ khác thường, không dừng lại ở khảo cổ, ở bác học nhưng phóng tầm mắt ra bên ngoài, bên trên, bên dưới khảo cổ, lịch sử, bác học để cố tìm ra những nét căn bản chạy ngầm xuyên qua lịch sử nước nhà, những tính chất có ngay từ đầu và sẽ còn lại mãi mãi với dân tộc, nên gọi là Tốtheo nghĩa “bản lại cố hữu”.

Độc giả sẽ nhận ra lối khảo cổ như trên chiếu rất nhiều tia sáng kỳ lạ vào con đường chúng ta phải đi để đến đợt văn minh chân thực. Như thế sự quay về để học lại nguồn gốc nước nhà với mọi khía cạnh văn minh, văn hóa, định chế, sử địa, văn chương… không còn là một việc khảo cổ suông trong thư viện nữa nhưng chính là giúp vào việc kiến quốc, tìm ra và củng cố tinh thần dân tộc, đặt nền tảng vững chắc nhất cho nền quốc học mai ngày vậy.”(11)

Thiết tưởng, những lời giới thiệu của ông về đứa con tinh thần yêu quý nhất của mình ở trên đã nói rất rõ về nội dung của của nó. Phải chăng đây là tác phẩm tâm đắc nhất của ông?

Cũng vào năm 1970, ông cho ra đời tác phẩm Dịch Kinh Linh Thể. Theo nhận định chủ quan của người viết, cuốn sách này tuy khá mỏng nhưng ẩn ong một sức mạnh dị thường, bởi nó đã kiến giải được phần thâm sâu và đặc sắc nhất của Kinh Dịch. Dịch Kinh Linh Thể cònlà một tác phẩm về Kinh Dịch lạ lùng nhấttừ trước đến nay của người Việt. Ông không lan man chú giải hết 64 quẻ Dịch và những phần khác trong bộ kinh như những học giả khác mà chỉ ong vài câu trong phần Hệ Từ và duy nhất một quẻ Kiền để dẫn dắt người đọc đi thẳng vào phần cốt tủy của Kinh Dịch.

Khi nói về Kinh Dịch, ông đưa ra một đề quyết động trời, có thể làm sửng sốt người đọc và gây tranh cãi ở tầm cỡ quốc tế. Với ngôn từ của một Ki Tô hữu, ông đã dám khẳng định rằng:

“Người Việt có hai tội tổ tông truyền:

Một: quyển Kinh Dịch là của người Việt

Hai: một số người đọc thì lại đọc theo lối Tàu, lối Tây mà không biết đọc theo lối Việt Nho.

Quyển này nhằm rửa sạch hai tội đó.” (12)

Trước khi đọc cuốn Dịch Kinh Linh Thể, tôi đã đọc các sách dịch và chú giải về Kinh Dịch của Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Duy Tinh. Khi đọc các vị này, tôi nhận thấy Kinh Dịch cũng bình thường như bao sách khác, và nếu như vậy thì  Kinh Dịch có gì đặc sắc mà người ta lại ca ngợi. Khi đọc ông, tôi mới ngộ ra được cái tinh hoa của Kinh Dịch. Ông đề nghị đọc Dịch một cách rất sáng tạo, đọc theo lối Kỷ Dịch – đọc Dịch ở nơi thâm sâu của lòng mình. Nếu đọc Kinh Dịch, thực hành và tu luyện theo cách này, con người sẽ đến cảnh giới nội thánh ngoại vương của thánh nhân và có thể an bang tế thế.

Để tiếp nối cuốn Nhân Bản,ông cho xuất bảnLạc Thư Minh Triết vào năm 1971. Theo tôi, đây là hai tác phẩm rất then chốt, có thể nói là rất quan trọng, bởi vì nó bàn về tính mệnh và cứu cánh của con người – đích điểm mà chúng ta cần phải đạt đến.

Trong Lạc Thư Minh Triết, ông khuyến khích một đời sống tự lập, tự cường về mặt tinh thần, ca ngợi và xưng tụng sự cô đơn. Trong sự xa vắng tiếng ồn ào của thế tục và rộn rã của trần gian, con người cô đơn mới dễ dàng tìm lại cội nguồn chân thực của mình, cội nguồn đó chính là Thần – Thần tính Nội tại. Cô đơn còn là cơ hội để sáng tạo và xây dựng nên sức mạnh tinh thần, là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại. Ông cho rằng, trong lịch sử loài người chưa có công trình vĩ đại nào mà không được thai nghén trong cô đơn, cũng như không có đại nhân chân thực nếu không được nuôi dưỡng trong cô đơn.

Dù không được ông nói rõ ra nhưng tôi nghĩ rằng, tác phẩm này đã manh nha một nền Thần học Việt. Lạc Thư Minh Triết có đôi chỗ bàn về những vấn đề siêu hình của Đông Phương mà các cuốn trên chưa từng đề cập. Theo ông, cơn khủng hoảng của giáo hội Thiên Chúa giáo hiện nay là do nền Thần học Tây Phương gây ra. Ông cho rằng, “muốn thoát khỏi khủng hoảng thì cần trở về nguồn để  tìm ra ý nghĩa chân thực của Thánh Kinh khi mới vừa xuất phát, nghĩa là còn trong bầu không khí Đông phương”(13).

Thay vì chọn Thần học Thiên Chúa giáo để giải quyết vấn đề khủng hoảng tư tưởng và sự biến động của thời đại, ông lại chọn nền Minh Triết của Lạc Việt (Lạc Thư Minh Triết)nơi mà ông cho là sản sinh ra một nền triết lí nhân sinh tốt đẹp nhất và có thể làm lối thoát cho sự bế tắc tư tưởng của con người Việt Nam hiện đại. Từ một cái nhìn thấu triệt, ông tự mình thoát khỏi tư duy truyền thống của triết học kinh viện và Thần học Thiên Chúa giáo. Lạc Thư Minh Triết chắcđã làm cho bề trên của ông không vừa lòng, bởi vì tư duy của ông là tư duy vượt thoát, một tư duy không nô lệ cho bất kì thế lực thần quyền nào. Tuy là linh mục nhưng sách của ông không được phần đông Ki Tô hữu đón nhận một cách nồng nhiệt. Có thể nói rằng, Lạc Thư Minh Triết là bức thông điệp của một linh mục Thiên Chúa giáo đã giác ngộ được giá trị thâm sâu của văn hóa Đông Phương, gửi đến cộng đồng Ki Tô hữu của mình.

Lạc Thư Minh Triết đề nghị một lối sống thật minh triết và hợp với đạo lí của người Việt. Ông bảo rằng, nên tìm đạo ngay trong đời sống thường nhật, tìm cái phi thường trong những cái thường thường. Nếu tìm cái phi thường trong những cái phi thường thì sẽ không bao giờ tìm được, mà trái lại còn khiến đời sống trở nên vô đạo. Cách nói của ông giống như một thiền sư của nhà Phật: Tìm sự giác ngộ trong việc gánh nước, bửa củi, nấu cơm…

Năm 1973, Loa Thành Đồ Thuyết ra đời. Khởi hứng từ kiến trúc của thành Cổ Loa, ông đề nghị Loa pháp (phương pháp trôn ốc), tức là phương pháp tu dưỡng cái đạo làm người, và càng ngày càng tiến lên cao theo hình trôn ốc để trở thành hiền nhân, thánh nhân. Theo ông, hiền nhân quân tử của Á Đông là mẫu người rất quân bình mà nền triết lí An Vi cần phải hết sức chú ý. Mẫu người này có được nhiều ý chí, lắm tình cảm, và một chuyên môn vững ong. Họ là người có nhiều lí tưởng nhưng rất thực tế, sẵn ong dấn thân để xây dựng tiền đồ của dân tộc và kết quả sẽ thật hữu hiệu.

Trong Loa Thành Đồ Thuyết, một mặtông lên án cách sống của những người có chuyên môn cao nhưng sống vô hồn, vô hướng, chỉ biết làm việc ong hục như trâu mộng để kiếm tiền. Với hạng người này, ngoài đời sống sinh lí ra, không còn biết gì đến những mối tình cao cả của con người, của tâm linh tiến hóa. Mặt khác, lên án một số người đang chạy theo đủ loại thiên tài điên loạn trên thế giới. Ông bảo: “Âu-Mỹ giàu vô kể, nên cũng có vô vàn khả năng tiến triển trước mắt, chứ như Việt Nam, túng xác túng xơ chỉ còn chút vốn liếng đạo làm người mà cũng vất bỏ thì còn gì nữa mà xây Loa thuyết”(14).Thiển nghĩ, những ai có trách nhiệm xây dựng chương trình giáo dục cho dân tộc cần phải lưu ý những điểm trên.

Từ nền tảng Triết lí An Vi ông xây dựng chủ thuyết Việt Nho. Chủ thuyết này có hai phần: Đạo Nho siêu việt và Đạo Nho của người Lạc Việt.

– Đạo Nho siêu việt: Ông đã chú giải kinh điển Nho giáo theo cách hoàn toàn sáng tạo và mới lạ, chưa từng thấy ở các nhà Nho trước đây và những người thuộc trường phái Tân Nho giáo ở Đài Loan. Ông đã ong phương pháp so sánh, đối chiếu Nho giáo Nguyên thủy – đạo Nho khi chưa bị Hán Nho bóp méo, xuyên tạc – với Phân Tâm học miền sâu, triết học hiện sinh của ba tác giả đã kể trên, sau đó là cảm nghiệm và suy tưởng trong một thời gian lâu dài để sáng tạo ra triết thuyết của mình. Ông cho người đọc nhận thấy những giá trị Nhân bản Tâm linh của kinh điển Nho giáo cũng rất thích hợp với trào lưu triết học hiện đại. Những tác phẩm dành cho chủ đề này là: Những Dị Biệt Của Hai Nền Triết lý Đông Tây, Cửa Khổng, Nhân Bản, Chữ Thời, Tâm Tư…

– Đạo Nho của người Lạc Việt và Nguồn gốc văn hóa Việt Nam: Ông ong ánh sáng của phương pháp huyền sử để soi rọi đêm trường âm u của văn hóa Việt Nam. Huyền sử là một phương pháp khai quật văn hóa và truy nguyên nguồn gốc dân tộc từ những biểu tượng, những huyền thoại và truyền thuyết của dân tộc, mà ông là người đặt nền móng và cũng là người ong nó để xây dựng giả thuyết của mình. Ông tuyên bố, Nho giáo là do người Việt cổ khai sinh nhưng đã được người Trung Hoa hoàn tất, và cũng bị họ làm cho sa đọa, sứ mạng của Triết Đông là phải trả lại cho Nho giáo sự chính truyền của chủ cũ. Ông đã sử dụng khảo cổ học, ngôn ngữ học, phân tâm học và cơ cấu luận để lí giải nguồn gốc văn hóa và nguồn gốc dân tộc Việt. Những ý tưởng táo bạo này sẽ được đón nhận nồng nhiệt và gây tranh cãi trong tương lai mai hậu. Những tác phẩm dành cho chủ đề này là: Căn Bản Triết Lý Trong Văn Hóa Việt Nam, Việt Lý Tố Nguyên, Dịch Kinh Linh Thể, Lạc Thư Minh Triết, Triết Lý Cái Đình, Loa Thành Đồ Thuyết, Vấn Đề Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam…

Tuy rằng bắt đầu từ Việt Lý Tố Nguyên trở về sau, ông hầu như hoàn toàn quan tâm đến việc trở về nguồn, nhưng không phải vì thế mà phần Đạo Nho siêu việt bị ông lơ lãng. Hai chủ đề này luôn đan xen và hòa quyện lẫn nhau trong các tác phẩm trên, vì vậy phần lớn độc giả thường sa đà vào những chi tiết về nguồn gốc văn hóa và dân tộc mà không nhận ra được Đại Đạo – xương sống để tạo nên nền Triết lí An Vi.

Không những là một triết gia, ông còn là một người quan tâm đến vấn đề giáo dục đại chúng. Ông cũng là một nhà giáo dục rất sâu sắc, một người có tầm nhìn rất xa về vận mệnh dân tộc. Bởi vậy ông luôn đề cao việc lấy sự giáo dục con người làm căn bản. Các tác phẩm bàn về giáo dục của ông như: Triết lý Giáo Dục, Định Hướng Văn Học, Hiến Chương Giáo Dục, Vấn Đề Quốc Học đều nêu lên sự vô cùng cần thiết của một nền giáo dục mang tính nhân bản tâm linh, tính dân tộc. Ông đã bỏ nhiều công sức để nghiên cứu, đối chiếu và so sánh về những nét cơ bản của những nền giáo dục lớn của nhân loại như Âu Tây, Ấn Độ và Viễn Đông, để rồi đưa ra một chiến lược giáo dục thích hợp và lâu dài cho dân tộc. Ông từng phát biểu: “Một dân tộc cũng như một cá nhân, chỉ có thể chống lại đoàn lũ hay những tư trào tràn vào gieo rắc phân tán dân tộc mình là khi nào tâm thức dân tộc ấy được tổ chức chu đáo trên một cơ sở tinh thần vững mạnh.”(15)

Ý nguyện ban đầu của ông là thiết lập một nền Thần học Việt, nhưng về sau ông đã chuyển hướng và dành toàn bộ tâm lực để sáng tạo ra nền Triết lí An Vi. Có lẽ ông cho rằng việc xây đắp một nền triết lí hoàn toàn Việt Nam là điều cấp bách hơn; và việc xây dựng một nền Thần học Việt sẽ do thế hệ tín hữu Công giáo sau ông làm thay, còn ông chỉ là người đưa ra ý tưởng cho một công việc vô vàn khó ong và thử thách này.

Triết lí An Vi và chủ thuyết Việt Nho mà ông đề xướng nhấn mạnh vào những chủ đề chính: tâm linh, nhân chủ, tự do, bình sản, thái hòa. Đây không phải là thứ triết học hàn lâm, trường ốc, khô khan và nhạt nhẽo chuyên dành cho những nhà chuyên môn, mà nó là một nền triết lý sống động, mang âm hưởng vào xã hội và có được sức mạnh chuyển hóa lòng người. Vì khuôn khổ có hạn của một bài viết, ở trên tôi chỉ giới thiệu những tác phẩm then chốt đã xuất bản trước năm 1975. Theo cảm nhận của riêng tôi, những tác phẩm này có một sức hút lạ thường, một tầm ảnh hưởng diệu kì; nó có thể gây nên sự chấn động trong tâm thức và làm thay đổi vận mệnh của bất kì độc giả nào đắm chìm vào trong đó.

Trước năm 1975, tiếng tăm của ông vang dội trong giới học thuật, ông được đánh giá như một ngôi sao sáng trên bầu trời triết học Việt Nam. Lần lượt, ông đã được các đại học miền Nam Việt Nam mời dạy ở như: Đại học Vạn Hạnh (1967-1975), Đại học Đà Lạt, Đại học Minh Đức, Đại học An Giang, Đại học Cần Thơ, Đại học Thành Nhân (1971-1975). Ông cũng đã được Đại học Văn Khoa – Huế mời dạy, nhưng những biến động lớn của đất nước đã không cho phép ông thực hiện ý định truyền bá nền triết lí của mình ở trong nước nữa.

Năm 1975, ông di cư sang Hoa Kì. Trong gần 10 năm đầu, ông ở nhờ nhà một người bà con. Vì nhu cầu của những người học trò cũ yêu mến, ông đã cố gắng thu thập và cho in lại một số tác phẩm đã xuất bản trước năm 1975. Cũng trong thời gian này, ông liên lạc lại với một số học trò cũ, và bắt tay vào việc xây dựng các nhóm An Vi.

Sau khi được tiếp xúc với nền văn minh tư bản, nhìn sức sống trẻ trung, mạnh mẽ của Hoa Kì, ông nhận thấy sức mạnh của thế giới tư bản thực là phi thường. Điều này đã làm ông khâm phục. Nhưng ông cũng nhìn nhận rằng, xã hội tư bản tuy giúp cho con người được nhiều tự do, nhiều động cơ vươn lên để tìm kiếm những tiện nghi về vật chất nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề gốc rễ của con người. Nền văn minh Âu Mỹ có sức quyến rũ đối với mọi người, nó đã đạt được mục tiêu là làm cho họ vui tươi, thoải mái, nhưng thực ra, đó chỉ là bộ mặt, là cái vỏ bề ngoài, chứ chưa thấm đẫm vào tâm hồn. Theo ông, xã hội Âu Mỹ chưa có một chủ đạo làm căn bản cho một tương lai lâu dài.

Nhờ có nhiều thời giờ hơn để đọc sách, để thâm cứu và suy tưởng thêm, cái nhìn của ông đã mở ra một viễn cảnh mới. Trong tiến trình xây đắp triết thuyết Việt Nho, từ giả thuyết ông nâng thành chủ thuyết, từ Việt Nho nâng lên hàng Thái Nho, triết thuyết của ông trở nên bao trùm và sâu sắc hơn. Sau một thời gian dài thai nghén, ông đã liên tiếp cho ra đời bộ Ngũ Kinh Khải Triết: Hùng Việt Sử Ca, Kinh Hùng Khải Triết, Pho Tượng Đẹp Nhất Của Việt Tộc, Sứ Điệp Trống Đồng, Văn Lang Vũ Bộ. Ông mong muốn bộ Ngũ Kinh Khải Triết sẽ là bộ sách dân tộc đối với người Việt đang phiêu bạt ở xứ người, và cũng có thể là cho cả dân tộc Việt Nam trong tương lai. Theo ông, bộ kinh này là di sản thiêng liêng của quê nước, nó sẽ nhắc nhở cho người Việt đang xa xứ không bao giờ được quên nguồn gốc và dân tộc mình. Ông nói rằng: “Nếu mình không gắn bó với nó thì ngày mai sẽ trở nên một giống vô loại. Khuôn mặt và màu da không cho phép mình hòa đồng với người Tây Âu” (17). Vì quá yêu nước, lời nói của ông mạnh mẽ nhưng hơi cực đoan. Có thể đó là một cách gây sự chú ý cho cộng đồng người Việt chăng?

Tháng 08/1984, ông được mời sang Đài Loan tham dự Hội nghị Quốc Tế về Triết Trung Hoa tại Đại học Đông Hải. Trong hội nghị này, ông đã phát biểu một tham luận có nhan đề “Vai trò Nho giáo Có thể Đảm nhiệm trong Thế giới Ngày nay” (The Role and the Conditions of Ju in Our Present Age). Cuối năm 1984, Văn Phòng Mục Vụ Di Dân của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kì tài trợ một năm để ông nghiên cứu về các cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Hoa Kì. Ông đến cư ngụ mấy tháng tại trụ sở của văn Phòng Nghiên Cứu Xã Hội ở Garden Grove. Nơi đây ông đã gặp rất nhiều thân hữu, các nhóm học trò cũ, và thế là chương trình An Vi được phát động. Chương trình này có mục đích phổ biến triết thuyết Việt Nho, nơi gặp gỡ những người có cũng chí hướng và sống theo tinh thần của An Vi. Đây cũng là lúc ông làm quen với máy vi tính và bắt đầu viết lại những suy tưởng của mình. Từ 1984 đến năm 1989, ông đã viết 4 tác phẩm: Thái Bình Minh Triết tập I, tập II, tập III và Cẩm Nang Triết Việt. Bản thảo điện tử của các tác phẩm này đã được trao cho linh mục Trần Công Nghị cất giữ.

Từ năm 1987 đến năm 1992, ông nghỉ hưu tại trụ sở hưu dưỡng của linh mục Vũ Đình Trác ở Garden Grove. Trong thời gian này, ông đã tập hợp được một số người tha thiết với triết thuyết An Vi và kiên trì trong sứ mạng rao truyền sứ điệp của ông. Sau đó, phong trào An Vi đổi tên thành phong trào Việt Linh và hoạt động rộng khắp tại Hoa Kì. Là người thủ lĩnh của phong trào, sự hành hoạt của ông gần giống như một nhà chính trị nên ông bị hiểu lầm là con người của chính trị. Điều này đã gây biết bao oan khiên và phiền phức cho ông.

Tháng 11/1987, ông được mời tham dự Hội nghị Quốc tế về Khổng học với Thế giới Ngày nay (International Symposium on Confucianism and the Modern World) tại Đài Bắc, Đài Loan. Hội nghị này quy tụ 400 học giả khắp thế giới. Lần này, ông đã trình bày trước hội nghị một chiều hướng bao quát và rộng rãi hơn trong tham luận “Đạo Trường chung cho Đông Nam Á châu” (A Tao-Field for East Asia). Sau đó, ông còn tham dự Hội nghị Triết học (The World Congress of Philosophy) tại Brighton, Anh Quốc – năm 1988. Hội nghị Nghiên cứu Triết học Á Châu và Bắc Phi lần thứ XXXIII (The XXXIII International Conference on Asian and North African Studies) tại Toronto, Canada –  năm 1990. Trong những lần đi dự hội nghị ở xa, ông đều nói với các môn đệ rằng: “Thầy phải đi để nói cho thế giới biết con người, tư duy và đạo sống cao đẹp của dân tộc Việt Nam”.

Năm 1992 đến năm 1997, vì tai biến mạch não, vì tuổi già sức yếu, ông đã về hưu dưỡng tại Dòng Đồng Công, Carthage Missouri, Hoa Kì. Ngày 23/03/1997, ông về cõi vĩnh hằng, để lại nhiều thương tiếc trong lòng môn đệ, cũng như giới học thuật trong và ngoài nước.

Triết gia Kim Định đã đi trọn một cuộc hành trình đơn độc để khai phá và sáng tạo nên một triết thuyết vô tiền khoáng hậu và dâng hiến báu vật này cho dân tộc Việt Nam. Theo thiển ý, phần đóng góp quan trọng nhất của triết gia Kim Định là Đạo Nho siêu việt. Phần Đạo Nho của người Lạc Việt và Nguồn gốc dân tộc Việt Nam là một đóng góp nhỏ hơn, mang tính gợi mở, cũng như một là giả thuyết để làm việc.

Triết thuyết của Kim Định có rất nhiều ưu điểm nhưng cũng có không ít nhược điểm. Do phải làm việc một mình, phần đông là suy tưởng nên ông dễ sa đà vào những giây phút xuất thần mà quên đi thực tại. Cũng vì nhiều khi ông xem nhẹ, không chịu minh chứng hoặc xem xét những điều mình nói ra bằng phương pháp lịch sử, khảo cổ học, điền dã… mà chỉ vào những suy luận chủ quan, do vậy nhiều nhà nghiên cứu đã cho ông là một người cảm tính, mơ mộng và thiếu thực tế. Nhưng thử hỏi, nếu một người thiếu đi sự mơ mộng thì làm sao có thể trở thành triết gia? Triết gia là một người luôn luôn bay bổng trong vòm trời suy tưởng và mộng mơ. Vậy mơ mộng tuy là nhược điểm nhưng cũng chính là ưu điểm của ông, và nhờ vậy ông mới có được sự linh cảm và cái nhìn thấu thị hiếm có của một thiên tài. Triết gia chân chính bao giờ cũng đi trước thời đại của mình một thời gian cả mấy mươi năm.

Toàn bộ tác phẩm của Kim Định là một khu rừng bát ngát, mênh mông, làm cho người đọc dễ bị lạc lối. Độc giả của ông thường bị nạn cây che mất rừng, chỉ nhận thấy điều tiểu tiết mà quên đi sự vĩ đại. Nhiều học giả cũng  mắc phải cố tật này khi đọc sách của ông, họ không thấy được sự đóng góp to lớn của ông cho triết lí và văn hóa Việt Nam, mà chỉ biết phê bình những tiểu tiết của ông một cách gay gắt. Kim Định là triết gia chứ không phải là một người làm khoa học về xã hội và nhân văn, hay như một học giả chỉ biết dựa vào sách vở. Vì thế, hậu sinh cần phải rút tinh hoa từ triết thuyết của ông và bỏ đi những gì là sai sót và không cần thiết. Xem ra nền triết lí An Vi của ông vẫn còn có thể đáp ứng được phần nào cho nhu cầu của thời đại, có thể nâng cao tâm thức dân tộc, giúp đào luyện mẫu người mà quốc gia đang cần.

Đã có nhà sử học ác ý, đem ông ra chê bai, mỉa mai và làm trò diễu cợt; với cặp mắt cú vọ của một nhà duy sử, họ chỉ lăm lăm nhìn vào những điểm sơ suất trong công trình của ông để làm công việc bắt bẻ. Thật là cám cảnh cho ông! Thử hỏi các vị ấy có thể gây nên nguồn cảm hứng, chuyển hóa được tâm thức của độc giả, để sau khi đọc sách của mình, độc giả sẽ có một đời sống bình an, thánh thiện và tốt đẹp hơn? Lại có học giả được thừa hưởng cả một gia sản đồ sộ về nguồn gốc văn hóa và dân tộc Việt Nam và những ý tưởng mới mẻ của ông nhưng cũng kiếm cách chê bai ông cho bằng được, họ đã từng phát biểu:“còn mang nhiều chất cảm tính – cực đoan hoặc là chưa tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh”. Thiên hạ đã mang ơn ông nhưng lại “trả ơn” ông bằng cách như vậy. Thật là bất công!

Nhiều người Việt Nam chưa phân biệt được giữa triết gia và triết học gia, giữa hiền triết và giáo sư triết học, giữa nhà tư tưởng và học giả. Vì hiểu rõ tình trạng này, ông đã từng nói trong Vũ Trụ Nhân Linh và Văn Lang Vũ Bộ rằng, đó là cái cảnh “cá đối bằng đầu”. Dưới đây là một trong những lời than phiền của ông: “Và nếu có ngày gặp may, nảy nòi ra một triết gia tả nhậm thì cũng bị lấn át do bao tiếng om sòm của cảnh cá đối bằng đầu không sao trỗi lên được”(18)(Triết gia tả nhậm là triết gia đứng về phía kẻ yếu, đứng về phía nhân dân – chú thích của người viết bài này).

Ông Châu Hải Kỳ đã từng đem triết gia Kim Định xếp chung một chiếu với học giả Nguyễn Hiến Lê và học giả Giản Chi (Nguyễn Hiến Lê từng viết chung với Giản Chi một số đầu sách: Đại Cương Triết Học Trung QuốcTuân TửHàn Phi Tử). Không những vậy, ông còn đem hai tác phẩm cùng viết về đề tài Khổng giáo của Kim Định và của Nguyễn Hiến Lê ra để so sánh:

“… Dĩ nhiên tôi không phủ nhận điều này là các tác giả Kim Định cũng như các ông Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê đều phát huy cổ học Á Đông, triết lý Nho giáo, và nội dung của giáo sư Kim Định có nhiều chủ trương rất mới mẻ, chẳng hạn trong Việt Lý Tố Nguyên… Những ý kiến của tân kỳ của ông có cái ma lực lôi cuốn độc giả nhất là giới sinh viên học sinh rất mạnh. Song bình tĩnh mà xét về Nho giáo ông phát huy có phần quá đà: ông xưng tụng hơi nhiều, ong bốc có lẽ thái quá. Có thể đọc nói cuốn nào, về vấn đề gì, người đọc cũng thấy ngay rằng tác giả phát biểu say mê – nói thẳng ra là chủ quan về một phía. Chỉ sự kiện về mức quá đà đó cũng đủ minh chứng rằng tác phẩm của ông mất tính Đông phương rồi.

Trái với tác giả Kim Định, ông Nguyễn Hiến Lê có thái độ quân bình hơn. Ông không giống giọng điệu của một nhà nho ba hoa, một người “militant”. Huống chi tư tưởng và nếp sống dân tộc Việt chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền triết học Trung Hoa; lối viết của ông trở thành một nghệ thuật sống hơn là một học thuyết cao xa như giáo sư Kim Định, cho nên người đọc lĩnh hội không mấy khó ong. Nếu đức Vạn thế sư biểu sống lại và đọc tác phẩm của hai tác giả viết về mình, tôi chắc rằng Ngài sẽ thích tác giả Nhà giáo họ Khổng hơn”(19)

Mặc dù người viết bài này rất khâm phục nhân cách cũng như sở học của học giả Nguyễn Hiến Lê, nhưng không vì như vậy mà chấp nhận cách nhận xét trên. Học giả Nguyễn Hiến Lê là một nhà nghiên cứu về sử học, cổ học và triết học Trung Hoa chứ không phải là một nhà tư tưởng; còn giáo sư Kim Định là một triết gia, một nhà tư tưởng thực thụ. Ông Châu Hải Kỳ chưa phân biệt được sự khác nhau giữa Nho học và Triết lí Nho giáo, giữa Nho gia và Hiền triết. Học giả Nguyễn Hiến Lê viết về Nho học, giáo sư Kim Định viết về Nho triết thì làm sao mà đem so sánh với nhau; nếu đem hai vị đó ra so sánh với nhau thì có khác gì việc đem xe ô tô và máy bay phản lực ra để tranh cao thấp. Ngoài ra, ông Châu Hải Kỳ còn nói bóng gió rằng, triết gia Kim Định là một nhà nho ba hoa. Như thế thì thật là quá đáng!

Nhà thơ Hoài Khanh, giám đốc NXB Ca Dao đã từng trân trọng giới thiệu những tác phẩm của giáo sư Kim Định như sau:

“Đây là tác phẩm của một Tâm Hồn Thánh Trí. Các bạn có thể không đọc sách của CA DAO nhưng các bạn không thể nào không đọc sách của Bậc Hiền Triết KIM ĐỊNH.”(20)

Lời ca tụng của nhà thơ Hoài Khanh dành cho giáo sư Kim Định thật là xác đáng. Trước năm 1975, những nhà xuất bản tên tuổi ở miền Nam như: Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao, Kinh Thi, Nguồn Sáng… đều xuất bản sách vì mục đích văn hóa chứ không  phải vì mục đích lợi nhuận; vì thế đây không phải là một cách quảng cáo để bán sách.

Khi triết gia Kim Định còn sinh thời, đã có nguyên cả một cuốn sách xuyên tạc triết thuyết của ông, người ta ong những lời lẽ nặng nề để chà đạp, mắng chửi và cho ông là một tay hoạt đầu chính trị. Tôi tin chắc rằng, những  người này chưa đọc trọn vẹn một tác phẩm, chứ đừng nói chi đến cả một rừng sách mênh mông của ông. Nếu họ chịu khó học hỏi và hiểu sâu sắc nền triết lí An Vi của ông thì họ không thể làm một công việc liều lĩnh và cẩu thả đến như vậy. Tôi không thể nào hiểu nổi tại sao họ thực hiện ý đồ thâm độc này? Phải chăng ông là một linh mục Công giáo? Dân tộc Việt Nam đã kinh qua rất nhiều khổ đau vì chia rẽ, sao có người còn muốn gieo rắc hận thù, nghi ngờ và đố kị?

Và nếu ai còn nghĩ ông là tay sai của ngoại bang và mục đích làm văn hóa của ông là phá hoại đất nước thì hãy đọc những dòng sau đây của ông:

“Bây giờ chúng ta ghé thăm tôn giáo; ngoài sự mất tín nhiệm với con người, chúng ta còn nhận thấy một tình trạng trầm trọng hơn nhiều đó là sự mất lòng tự tín. Trong hội nghị các tôn giáo tại Genève năm rồi (Congrès des églises à Genève  9/1970) có lời tuyên bố là các tôn giáo đã hết uy tín và thẩm quyền dạy luân lý. Nói thế là vì mọi nền luân lý trước đây đều mang tính cách thế tục, không còn thể hợp nữa cho con người đang bước vào giai đoạn toàn-cầu với tư tưởng liên-hành-tinh, nên đang cần một nền luân lý phổ biến hơn, phóng khoáng hơn. Vì thế mà ở rất nhiều nơi người ta nhận thấy mọc lên từng trăm từng ngàn những nhóm nhỏ (under group) đứng độc lập bên ngoài mọi giáo quyền, với hi vọng có thể hướng tới linh thiêng hiệu nghiệm hơn, mặc dầu chưa biết dạng thức như thế nào nhưng ít ra không bị ràng buộc trong những nghi thức đã trở thành trống rỗng và máy móc. Hiện nay hướng đi chung của họ là muốn quay về phụng sự con người một cách chân thực. Vì thế trong sự đánh giá, người ta càng ngày càng căn cứ trên khả năng cũng như uy tín cá nhân nhiều hơn là trên chức nghiệp hay quyền uy như trước. Đấy cũng là dấu hiệu con người đang từ giã những hành ngơi bên ngoài để đi sâu vào nội tâm. Vì thế ta có thể nói nét đặc trưng của thế giới hiện đại không phải là sa lầy vào vật chất như các nền luân lý quen nói, nhưng là giũ bỏ các giá trị cũ để đi tìm những gì vươn lên. Còn những giá trị tinh thần cũ bất cứ thuộc tôn giáo, triết học hay văn hóa, luân lý, quyền uy nào đều không được chấp nhận nữa” (21)

Để đem lại danh dự và xóa đi ngộ nhận về triết gia Kim Định, sau khi ông bị người ta cố ý chụp mũ, vu khống và bôi nhọ, tôi – một kẻ vô danh tiểu tốt – đành phải trích dẫn dài dòng như trên. Liệu bề trên của ông trong giáo hội Công giáo có vừa ý khi nghe ông phát biểu một cách quyết liệt như vậy không?  Cách nói quá thẳng thắn và trung thực của ông mang lại lợi ích gì cho giáo hội Công giáo và những thế lực chính trị? Đó là câu hỏi mà những người đã hiểu sai về ông phải tự trả lời.

Trích đoạn trên đây cho thấy triết gia Kim Định đã có một sự nhạy cảm và cái nhìn thấu thị vượt thời gian. Đã và đang có những cá nhân riêng lẻ, những nhóm người, những dòng tu thực hiện những giá trị tinh thần cao quý và hành động vì mục đích đem lại hòa bình, thịnh vượng cho thế giới. Có nhiều và rất nhiều những con người như vậy, họ là: Krishnamurti, Nisargadatta Maharaj, Mẹ Teresa, Triết gia Kim Định, Thích Nhất Hạnh, Dalai Lama, Eckhart Tolle…

Trong cuộc đời dạy học và trước tác của ông, ông không chỉ giảng dạy kiến thức mà còn trao truyền một Đạo Sống cho biết bao thế hệ môn sinh. Nhiều người chỉ biết ông qua tác phẩm nhưng vô cùng biết ơn ông, bởi vì ông đã khai tâm và dẫn dắt họ về với suối nguồn của Đạo học Á Đông, mà cũng chính là trở về với cội nguồn tâm linh sâu thẳm trong tâm hồn mà từ lâu họ đã lãng quên trong đời sống thường nhật. Ông là một bậc thánh trí, một bậc hiền triết, một chiến sĩ dấn thân trọn đời vì văn hóa dân tộc. Ông là bó đuốc thắp sáng trong đêm trường hoang vu của Việt Nam và nhân loại. Ông là vị Khổng Tử của nước Việt Nam trong bối cảnh Xuân Thu Chiến Quốc thời hiện đại.

Ông đã sống chết với những điều mình cưu mang gần bốn mươi năm trời, từ lúc còn ở trong nước, đi ra nước ngoài, cho đến khi nhắm mắt xuôi tay trong bệnh tật và cô đơn. Ông ra đi khi đã được nhìn thấy được học thuyết An Vi của mình bén rễ trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại. Những suy tư và đề nghị của ông chắc chắn sẽ được hậu thế đánh giá cao.

Bậc hiền triết Kim Định chính là điềm triệu, là một con chim quý Lạc Việt báo hiệu thời đại Tâm Linh sẽ đến. Tất cả biến cố về chính trị, kinh tế sẽ qua đi, tương lai thuộc về ông và những con người mang sứ mệnh khơi lại nguồn suối tâm linh của Việt tộc.

Ngày 14/7/2012, nhân 15 năm ngày mất của Kim Định, Trung tâm Minh Triết phối hợp với Trung tâm Lý Học Đông Phương đã tổ chức buổi tọa đàm tưởng niệm về ông tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Đây là lần đầu tiên, một buổi tọa đàm có quy mô lớn về triết gia Lương Kim Định được tổ chức tại Việt Nam. Cuối cùng, học giới trong nước cũng chấp nhận và đánh giá lại di sản đồ sộ và quý báu về triết học và văn hóa Việt Nam của ông. Tuy mới chỉ là một tín hiệu nhỏ, nhưng hi vọng đây là một bước khởi đầu tốt đẹp. Để đánh giá lại toàn bộ di sản của ông, có lẽ phải cần một thời gian khá dài, với sự góp sức của những người yêu mến minh triết và có nhiều tâm huyết với văn hóa dân tộc.

……………………………………………………………………..

1) Cửa Khổng – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn, 1965, Lời tựa.

(2) Cửa Khổng – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn, 1965, trang 104.

(3) Nhân Bản – Kin Định – Ấn Quán Thanh Bình, Sài Gòn 1965, trang 144.

(4) Định Hướng Văn Học – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn 1969, trang 83-84.

(5) Bìa 3 cuốn Chữ Thời – Kin Định – Ấn Quán Thanh Bình, Sài Gòn 1967.

(6) Những Dị Biệt Của Hai Nền Triết Lý Đông Tây – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn 1969, trang 95-96

(7) Những Dị Biệt Của Hai Nền Triết Lý Đông Tây – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn 1969, trang 128.

(8) Tâm Tư – Kim Định – Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn 1970, Lời tựa.

(9) Căn bản triết lý trong văn hóa Việt Nam – Kim Định – Ra Khơi, Sài Gòn 1967, trang 153-154

(10) Dị Biệt Của Hai Nền Triết Lý Đông Tây – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn 1969, Lời bạt

(11) Việt Lý Tố Nguyên – Kim Định – NXB An Tiêm, Sài Gòn 1970, trang bìa 4.

(12) Bìa 4 của Dịch Kinh Linh Thể – Kim Định – Tủ Sách Ra Khơi, Sài Gòn 1970.

(13) Lạc Thư Minh Triết – Kim Định – NXB Nguồn Sáng, Sài Gòn 1971, trang 134.

(14) Loa Thành Đồ Thuyết – Kim Định – Ấn Quán Thanh Bình, Sài Gòn 1973, trang 153.

(15) Hiến chương Giáo dục – Kim Định – NXB An Tiêm, Sài Gòn 1970, trang bìa 4.

(17) Văn Lang Vũ Bộ – Kim Định – NXB H.T Kelton, USA, trang 236.

(18) Văn Lang Vũ Bộ – Kim Định – NXB H.T Kelton, USA, trang 87.

(19) Nguyễn Hiến Lê – Cuộc đời và Tác phẩm – Châu Hải Kỳ – NXB Văn Học, Hà Nội 1993, trang 227-228.

(20) Ca Khúc Của Quán Cà Phê Buồn – Carson McCullers, Hoài Khanh dịch – NBX Ca Dao, Sài Gòn 1969, trang cuối sách.

(21) Loa Thành Đồ Thuyết – Kim Định – Ấn Quán Thanh Bình, Sài Gòn 1973, trang 180-181.

 

PHẦN TRÍCH DẪN NHỮNG BÀI VIẾT VỀ TRIẾT GIA KIM ĐỊNH

Trong Hồi Kí Nguyễn Hiến Lê – NXB Văn Học, 1993 (trang 546), học giả Nguyễn Hiến Lê đã viết về triết gia Kim Định:

“Thật lạ lùng! Người đề cao Khổng tử nhất ở nước ta từ trước tới nay lại là một tín đồ Công giáo, giáo sư Kim Định, ông đã viết khoảng chục cuốn về đạo Khổng đưa ra nhiều ý táo bạo, mà ông chưa kịp sắp đặt lại thành hệ thống. Ông muốn cải tạo xã hội, cải tạo cả thế giới nữa, cho rằng nếu canh tân đạo Khổng thì những tư tưởng tự do và bình sản của Khổng có thể cứu nhân loại khỏi nhiều thảm họa. Theo ông, hiểu Khổng là vượt Khổng cho nên tránh các vấn đề siêu hình mà ông lại có lúc ong nhãn quan siêu hình để nghiên cứu Khổng.”

Khi nhận định về địa vị của Giáo sư Kim Định trên lộ trình tư tưởng Việt Nho, cố học giả linh mục Vũ Đình Trác đã viết như sau:

“Nhờ công phu mở đường trở về Triết Ðông của Linh Mục Giáo Sư Bửu Dưỡng và Linh Mục Giáo Sư Nguyễn Văn Thích cũng như tâm huyết của Giáo Sư Nguyễn Ðăng Thục, chương trình Triết Học Ðông Phương được khai giảng tại Ðại Học Văn Khoa Saigon năm 1958. Sẵn đường trở về Ðông Phương, Linh Mục Giáo Sư Kim Ðịnh tiện đường, đơn thương độc mã, xông lên một bước táo bạo, mở đường đi vào Triết Lâm Việt Nam.

Trong suốt 16 năm trời, tại giảng đường Ðại Học Văn Khoa Saigon, Giáo Sư Kim Ðịnh đã ảnh hưởng sâu rộng cho cả một thế hệ thanh niên và sinh viên. Mặc dầu bao chống đối, Giáo Sư Kim Ðịnh đã im lặng xây dựng một hệ thống Việt Nho khá trung thực và hấp dẫn. Không ai có thể chối cãi công phu xây dựng và ảnh hưởng sâu rộng của ông trong lãnh vực văn hóa dân tộc. Từ Ðại Học Văn Khoa Saigon, Giáo Sư Kim Ðịnh mở rộng mặt trận tới các đại học khác: đại học Ðà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Ðức, Thành Nhân và An Giang. Chính trong giai đoạn này Giáo Sư Kim Ðịnh đã sáng lập ra chủ thuyết An Vi và Việt Nho.

Nhờ công khai thác và biên khảo, sáng tác của Giáo Sư Kim Ðịnh, những bậc thức giả khắp nơi đã suy tôn Giáo Sư là Triết Gia Việt Nam. Ảnh hưởng Việt Triết và Việt Nho của Giáo Sư Kim Ðịnh đã gây ý thức cho người Việt khắp nơi nhìn lại thực tại văn hóa của mình. Các đồ đệ của Giáo Sư Kim Ðịnh đã đáp ứng nguyện vọng của Thầy để khai thác và phổ biến Việt Lý của Thầy qua tổ chức An Việt. Các nhóm An Việt được thành lập khắp nơi: San Jose, Orange, Houston, Louisiana, Washington, D.C., Philadelphia, Seattle và tại Canada, Úc Châu, Anh, Pháp, Ðức, v.v… AN VI đã như luồng gió dân tộc bùng lên khắp nơi có người Việt định cư. Các nhóm này coi Triết gia Kim Định như bậc Đại Sư mà họ tôn làm Tổ: TỔ SƯ AN VI. Ảnh hưởng của của Triết gia không những thế, mà con lan rộng tới các học giả, triết gia ngoại quốc: Âu Mỹ và khối Viễn Đông.”
Trong báo Ngày Nay số 121, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, đại học Georgetown, Washington D.C viết về Giáo sư Kim Ðịnh:

“Trong nỗ lực đi tìm một con đường Việt Tộc, nhân chủ, tự do, thì chúng ta phải kể ở hàng đầu công trình đồ sộ của Giáo Sư Kim Ðịnh. Ở đâu ông cũng thế, không phải sang Mỹ ông mới tìm “về nguồn”. Việc làm của ông trong tình cảnh mất mát vô biên, chẳng qua cũng chỉ là tiếp nối công việc của ông đã bắt đầu khi còn ở trong nước, khi còn ở miền Nam tự do. Từ 1962 tới 1975, ông đã hoàn tất được 23 cuốn triết học, tương đương với khoảng 7,000 trang một mảng tư tưởng mà không dễ mấy triết gia có thể so sánh được. Sự độc đáo ở nơi ông cũng đã là một chuyện quá rõ – dầu ta có đồng ý với ông hay không, thì ta cũng không thể phủ nhận được tính cách độc đáo của tư tưởng ông.

Ngày nay tham vọng cuối cùng của Giáo Sư Kim Ðịnh là sẽ dựng xong một bộ Kinh Việt (hiểu theo nghĩa “bible”) cho dân tộc ta. Ðể thực hiện tham vọng này, ông đã cho in lại hoặc đang in năm cuốn thuộc bộ “Ngũ kinh khải triết”, đó là: Hùng Việt Sử Ca, Kinh Hùng Khải Triết, Pho Tượng Ðẹp Nhất Của Việt Tộc, Sứ Ðiệp Trống Ðồng, Văn Lang Vũ Bộ (số lớn do nhà in H.T. Kelton xuất bản). Nếu ai hỏi tôi rằng có nên đọc hay không, thì tôi xin thưa ngay: dứt khoát là có. Tại sao – Tại vì nếu ta không nhất thiết đồng ý với hết cả ý kiến của ông, ta cũng sẽ được làm thân với một trong những bộ óc triết lý lớn nhất nếu không của nhân loại thì cũng của Việt Nam. Tôi nói điều này trong sự cân nhắc, cũng không khác gì câu tôi sẽ trả lời cho người nào hỏi: có nên đọc Platon hay Aristote không? Ðã nhất thiết gì ta đồng ý với Platon trong tác phẩm La république, nhưng ai không đọc tác phẩm đó, thì chắc chắn là mất đi một mảng hiểu biết rộng lớn về triết học Tây Phương. Cũng như vậy, ai không đọc Giáo Sư Kim Ðịnh cũng không sao, ông sẽ từ tốn mà “an vi”, để chờ một ngày kia người nọ sẽ tỉnh mộng mà trông thấy hết cả cái mất mát của mình.”
Trong bộ Tự điển Bách khoa Văn Học xuất bản năm 2005, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Viện Văn Học Quốc nhận định về triết gia Kim Định:

“Vậy thì những cuốn sách nói trên đã đến lúc cho phép chúng ta xác nhận lại thật rõ ràng một số đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Viêm Việt, một “bản quyền” vô giá của dân tộc Việt Nam mà người Trung Hoa giai đoạn du mục chưa thể có:

  1. Đây là nền văn hóa nông nghiệp gắn liền với thiên nhiên, thời tiết, mùa màng, là sự hợp nhất giữa người và trời (thiên nhân hợp nhất), suy rộng ra là lòng yêu hòa bình, ghét chiến tranh, đặt văn lên trên võ, đặt nhân trị và lễ trị lên trên pháp trị.
    2. Là nền văn hóa bắt nguồn từ cuộc sống định cư nên sớm định hình tình cảm yêu nhà yêu nước, trong khi du mục là cuộc sống lang thang nên chỉ biết có người đứng đầu. Vì thế giữa hai vế kết hợp về sau của đạo Nho là “trung quân ái quốc” thì trung quân vốn của Hoa tộc, ái quốc vốn của Việt tộc.
  2. Là nền văn hóa đã trường kỳ chống lại sự xâm lăng của văn hóa du mục nên cũng là nền văn hóa sớm có sự cố kết về mặt tinh thần dân tộc; dân tộc tính là một tiêu chí định tính quan trọng của văn minh Lạc Việt và văn minh viễn Đông.
    4. Là nền văn hóa mềm mại uyển chuyển (Nho = nhu), biết coi trọng âm hơn dương, coi trọng nữ giới hơn nam giới hay ít ra cũng thừa nhận nữ giới có những quyền, những ưu thế hơn nam giới – “lệnh ông không bằng cồng bà”.
    5. Là nền văn hóa trọng “chiêu” hơn “mục”, trọng “tả” hơn “hữu”, tức là hướng về phương Đông và phương Nam, về nữ giới, về số lẻ, về hiền triết, về văn học nghệ thuật, về dân chúng, tóm lại hướng tới thuận hòa.
    6. Là nền văn hóa sinh thành trên cơ sở cố kết đơn vị làng, coi làng là một thứ liên bang uyển chuyển mở rộng phần tự trị trong xã hội phong kiến, nơi đề cao vai trò người mẹ và người trưởng thượng, nơi hình thành những lễ tục dân gian cùng trường tồn bên cạnh luật lệnh của nhà nước như một kiểu văn hóa lưỡng nghi; làng cũng là tổ hợp của dân chúng đứng ra đương đầu với nhà vua khi cần thiết – “phép vua thua lệ làng”.
    7. Là nền văn hóa tôn trọng thể chế gia đình như một giải pháp trung hòa giữa hai thái cực: muốn xóa bỏ tự do cá nhân vì lợi ích của công quyền và ngược lại, muốn phớt lờ mọi nghĩa vụ xã hội để đạt được tự do cá nhân. Tôn trọng thể chế gia đình khiến con người sống có tình và có lý, có quyền lợi và có nghĩa vụ, có trung và có hiếu.
    Ý kiến của Kim Định thường được trình bày dưới dạng những giả thuyết làm việc mà không phải là những định đề áp đặt hoặc coi như đã giải quyết trọn vẹn. Mặt khác, vào những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ trước, ông đã sớm có sự nhạy cảm trong việc tiếp nhận các phương pháp mới của triết học Âu Tây, chẳng hạn cấu trúc luận, phân tâm học, cả học thuyết tương đối của Albert Einstein nên có được cách lập luận đa dạng, với những thao tác không một chiều, cứng nhắc, giúp độc giả soi nhìn đối tượng từ nhiều phía, và làm cho luận thuyết của mình có sức hấp dẫn. Nhưng những điều ông đề xuất cũng như các luận điểm được ông chốt lại có những chỗ không tránh khỏi cực đoan, do không đủ cứ liệu, kể cả do thiên kiến, đã gây ra những phản ứng sôi nổi trong học giới, khiến nhiều người tin theo và cũng nhiều người bác bỏ. Mặc dầu thế, nhìn chung không thể không thừa nhận đấy là những tìm tòi đầy tâm huyết và có sức gợi mở không nhỏ, về một hệ thống vấn đề không kém quan trọng đang là ẩn số cần được tiếp tục giải đáp trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn của Việt Nam”.
    Giáo sư Trần Văn Đoàn – Đại học Quốc gia Đài Loan chia sẻ cảm tưởng:

“Trong gần một thập niên từ 1983-1992, người ta có thể nói cụ Kim Ðịnh là làm việc như một siêu nhân. Gần chục tác phẩm liên tiếp ra đời. Hội An Việt được thành lập, khêu lên tinh thần ái quốc, yêu chuộng sự khôn ngoan cũng như suy tầm về nguồn dân tộc, giúp những bạn trẻ và trí thức cảm thấy hãnh diện về dân tộc Việt mình nơi quê họ đất người.

Từ các tiểu bang bên Mỹ, cho tới các nước tại Âu Châu, từ Gia Nã Ðại cho tới Âu Châu, nơi đâu cũng có phong trào Hùng Việt hấp dẫn cả ngàn người. Thật là một hiện tượng chưa từng thấy.

Trong những năm nay, cụ thường gửi tặng tôi những tác phẩm mới cũng như những tin tức về phong trào Hùng Việt và Hội An Việt của cụ. Tôi cũng nhận thấy, có nhiều tác phẩm đã thấm nhuần ảnh hưởng của cụ (những bài của Linh mục Trần Cao Tường, các anh Vương Kỳ Sơn, vân vân). Có thể nói mà không sợ lịch sử chê bai, cụ Kim Ðịnh có lẽ là một người trí thức Việt duy nhất có thể gây lên một ảnh hưởng như vậy.
Như tôi từng khẳng định công lao của cụ tại Viện Triết học của Trung tâm Khoa học Xã hội, Hà Nội (18/01/1997), Kim Ðịnh vượt xa Trần Ðức Thảo trong lãnh vực suy tư và trong tinh thần ái quốc, cũng như sự nhiệt tâm của kẻ sỹ.”
Thái Bình Minh Triết , một tác phẩm của triết gia Kim Định đã được linh mục Trần Công Nghị xuất bản ngay sau khi ông mất. Linh mục Trần Công Nghị đã tưởng niệm về ông:

“Kim Định ôm hoài bão cánh chim Việt một ngày sẽ tung bay lên thượng tầng trời cao xanh, nơi đó đàn Chim Việt với nền Triết Việt Minh Triết là nguồn khởi thủy của một triết lý sâu xa, tiềm ong sắc thái An Vi. Kim Định vẫn miệt mài khám phá, đi tìm và không ngừng minh chứng cho ta thấy được nguồn gốc oai ong của Đàn Chim Việt.”

Trong Hành Trình Tìm Lại Cội Nguồn – NXB Văn Học, 2008 (trang 55),Hà Văn Thùy đã ca ngợi ông bằng những lời rất trân trọng:

 

“Hơn 30 năm qua cho tới nay, nhiều người cho rằng, cái yếu nhất của học thuyết Kim Định là thiếu cơ sở khoa học. Nhưng tôi trộm nghĩ, chính sự thiếu cơ sở khoa học này đã thể hiện dự cảm thiên tài của ông. Lẽ thường thì từ bột gột nên hồ nhưng có thể nói Kim Định đã từ nước lã mà gột nên hồ. Trong thời gian của ông, tri thức nhân loại về nguồn gốc văn hóa Á Đông còn rất thiếu thốn, cuốn sách quan trọng Eden in the East chưa ra đời, nguồn gốc và sự di cư của người hiện đại Homo sapiens chưa được xác định. Nhất là con đường Nam Á trong cuộc hành trình định mệnh về phương Đông chưa được phát hiện. Lịch sử Á Đông còn phủ trong vòng bao trùm của lý thuyết A. Aymonier cho rằng người Á Đông là từ phía Tây đi tới và chủ nghĩa Hoa tâm vẫn bao trùm trí tuệ nhân loại… Nhưng bằng dự cảm thiên tài của mình , ông đã phát hiện ra văn hóa Việt Nho cội nguồn của người Việt và bằng con đường “phiêu lưu” giải mã những truyền thuyết, huyền sử, ông đã tìm ra cốt lõi An Vi của đạo Việt! Là người tiên phong trong học thuật và tư tưởng, ông đã vượt qua những trí tuệ sáng láng nhất của người Việt và nhân loại. Chính vì thế, ông trở thành người độc hành lạc ong.”

 

Hồ Phú Hùng

Nguồn: http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/kim-dinh-cuoc-doi-va-tu-tuong

 

 

Các cuộc luận chiến trí thức phương Tây

 đằng sau các tư tưởng của Kim Định

  LE MINH KHAI
Thứ năm, 16 Tháng 7 2015 21:27

Khi đọc các tác phẩm của triết gia Nam Việt Nam Kim Định, một trong những điểm mà tôi thấy hấp dẫn là việc nhận ra được mức độ mà những ý tưởng của Kim Định đã được định hình bởi nhận thức của ông về một số cuộc luận chiếntrí thức chính ở phương Tây trong thế kỷ XIX và XX.

Ở mức độ rộng lớn nhất là cuộc luận chiến về các tộc người và các nền văn hóa “nguyên thủy”. Đây là một cuộc luận chiến nổi lên với sự phát triển của nhân học văn hóa như là một lĩnh vực nghiên cứu trong thế kỷ XIX.

Nhà nhân học người Anh Edward B. Tyler, “cha đẻ” của nhân học văn hóa, trong các tác phẩm chẳng hạn như Văn hóa Nguyên thủy (Primitive Culture1871) đã cho rằng các nền văn hóa phát triển từ một trạng thái sơ khai đến một trạng thái phức tạp hơn.

Do đó, Tyler cảm thấy rằng con người tất cả về cơ bản đều như nhau. Những khác biệt đã tồn tại chỉ đơn giản là kết quả của những mức độ tiến hóa xã hộikhác nhau.

Trong những năm đầu thế kỷ XX, học giả người Pháp Lucien Lévy-Bruhl đưa ra một lý lẽ tranh luận. Trong công trình Les fonctions mentales dans les sociétés inférieures (Các chức năng tinh thần trong các xã hội thấp kém – 1910) của ông, (bản dịch sang tiếng Anh là How Natives Think (1926), Người bản địa suy nghĩnhư thế nào), Lévy-Bruhl cho rằng vấn đề không phải là tất cả mọi người đều giống nhau, mà có những khác biệt chủ yếu giữa người phương Tây và các tộc người “nguyên thủy”.

Người “nguyên thủy” là người “thần bí”. Họ không phân biệt giữa hiện thực và siêu nhiên. Họ không hiểu khái niệm nhân quả, vv… còn người phương Tây, ngược lại, là “hợp lý”.

Sau đó, trong những năm 1960, Claude Lévi-Strauss đã đóng góp thêm vàocuộc luận chiến này, trong các tác phẩm như La Pensée Sauvage (Tư duy Hoang dã, 1962), được dịch ra tiếng Anh là The Savage Mind (1966) bằng cách lập luận  rằng nếu chúng ta xem xét cấu trúc của ý nghĩa đằng sau những lối tư duy của các tộc người từ khắp nơi trên thế giới, thì chúng ta có thể thấy rằng mọi người về cơ bản đều giống nhau ở cung cách suy nghĩ.

Lévi-Strauss công nhận có rất nhiều loại tư duy khác nhau, mà ông gọi là tư duythần thoại và tư duy khoa học, nhưng ông lập luận rằng chúng đều hợp lý như nhau và loại tư duy này (tư duy thần thoại) đã không tiếp tục phát triển thànhloại tư duy kia (tư duy khoa học). Đó chỉ đơn giản là hai cách nhận thức và tư duy về hiện thực có giá trị ngang nhau.
Cuộc luận chiến ấy trong các lĩnh vực nhân học và xã hội học về  cách thức tư duy của người nguyên thủy / người bản địa / người hoang dã đã giao thoa với tri thức học thuật trong lĩnh vực Trung Quốc học.

 

Lévy-Bruhl được cho là người đầu tiên quan tâm đến chủ đề về “tâm tính” khác nhau của con người sau khi người bạn của ông, nhà Hán học Édouard Chavannes, cung cấp cho ông một số bản dịch các tác phẩm của Trung Quốc cổ đại. Rõ ràng là Lévy-Bruhl nhận thấy các tác phẩm này không thể hiểu được và điều đó dường như đã khiến ông bắt tay vào việc nghiên cứu cách thức tư duy của các dân tộc khác nhau.

Trong khi đó, Edouard Chavannes là một học giả người Pháp đầu tiên vào năm 1901 đã đi đến một lý thuyết cho rằng người Việt ở Việt Nam là những người đã di cư từ Trung Quốc về phương nam, sau đó lý thuyết này được Leonard Aurousseau làm cho trở nên nổi tiếng hơn nhiều vào năm 1923, và chính lý thuyết ấy cũng đóng phần vào các tác phẩm của Kim Định.

Trong mọi trường hợp, nhà Hán học quan trọng nhất đối với Kim Định là Marcel Granet. Granet thực sự vừa là một nhà Hán học lại vừa là một nhà xã hội học, và tri thức học thuật của ông đã đóng góp cho cả hai lĩnh vực này.

Trong công trình La Pensée Chinoise (Tư tưởng Trung Quốc, năm 1934) của ông, chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của Lévy-Bruhl. Đối với Granet, cungcách suy nghĩ của người Trung Quốc chắc chắn khác với cung cách suy nghĩ của người phương Tây.

Để chứng minh cho vấn đề này, Granet đã cố gắng giải thích chi tiết các khái niệm thể hiện cách thức suy nghĩ của người Trung Quốc, và ở đây ông đã thảo luận nhiều vấn đề mà sau này Kim Định đã tập trung vào, chẳng hạn như khái niệm âm dương và ngũ hành.

Hệt như Claude Lévi-Strauss đã lập luận về lĩnh vực nhân học trong những năm 1950 và 1960 cho rằng người phương Tây và không phải phương Tây không phải tất cả đều khác nhau, do đó đã đưa ra một cuộc thảo luận tương tự xuất hiện vào thời gian đó về lĩnh vực Trung Quốc học.

Một người đã tham gia rất sâu vào cuộc thảo luận đó là nhà Hán học người Anh Joseph Needham. Vào những năm 1950, Needham bắt đầu nghiên cứu và xuất bản một loạt sách (khối lượng thực sự khổng lồ) được gọi là Khoa học và văn minh ở Trung Quốc – Science and Civilization in China.

Trong những cuốn sách này, Needham và nhiều cộng tác viên của mình, năm này qua năm khác, đã tìm cách xem xét tri ​​thức Trung Quốc từ bằng phương pháp so sánh để hiểu “khoa học” Trung Quốc. Các công trình của Granet là bước khởi đầu quan trọng cho Needham, nhưng theo thời gian, ông đã vượt khỏi các đặc trưng mô tả của Granet để đi đến phát hiện ra nhiều điểm tương đồng giữa tư tưởng Trung Quốc và phương Tây.

Do đó Needham đã tìm cách cung cấp cho độc giả của mình một cái nhìn tích cực vào nền văn minh Trung Quốc hơn là họ đã nhận thức được.

Một nhà Hán học khác cũng đã làm như vậy là Herrlee Creel. Là một giáo sư Đại học Chicago, Creel đã xuất bản các công trình về Trung Quốc trong cùngthời gian này và đã đem đến một cái nhìn rất tích cực về vùng đất đó.

Trong những năm đầu thế kỷ XX, các học giả phương Tây tin rằng các giai đoạn sớm nhất của lịch sử Trung Quốc, chẳng hạn như thời nhà Thương, là huyền thoại, nhưng Creel đã giới thiệu người đọc các phát hiện khảo cổ học về các giáp cốt văn ở An Dương để ủng hộ cho giá trị lịch sử của giai đoạn đó.

Ông cũng đã viết một cuốn tiểu sử rất đồng cảm về Khổng Tử trong đó ông chorằng Khổng Tử là một nhà cải cách dân chủ. . .

Sau đó là Wolfram Eberhard. Eberhard là một nhà Hán học người Đức đã phá vỡ huyền thoại cho rằng về phương diện lịch sử, Trung Quốc là một xã hội đồng nhất bằng cách chứng minh Trung Quốc luôn luôn là một xã hội đa luân lý (vì vậy mở ra cánh cửa cho Kim Định để lập luận rằng luân lý Việt quan trọng hơn so với luân lý Hoa, hoặc Trung Quốc ).

Kim Định trích dẫn tất cả các học giả đó trong các tác phẩm của ông. Và trong khi ông không nhất thiết đi theo những ý tưởng chính xác của họ (chẳng hạnEberhard không cho rằng người Việt ở Trung Quốc trước người Hoa, như lý lẽ của Kim Định), tôi vẫn sẽ cho rằng không thể hiểu được ý tưởng của Kim Định nếu không hiểu được các học giả mà ông đã đọc và suy nghĩ về các ý tưởng của họ.

Kim Định đọc các tác phẩm của Marcel Granet, Claude Lévi-Strauss, Joseph Needham và Wolfram Eberhard, nhưng để hiểu những gì mà các học giả này đã viết, chúng ta cũng cần phải hiểu về những gì mà các học giả như Edward Tyler và Lucien Lévy-Bruhl đã viết.

Điều này có thể khiến chúng ta hiểu “cái tinh thần” đằng sau tất cả những gì mà các học giả này đã làm, và suy nghĩ về “cái tinh thần” đằng sau những gì Kim Định đã tìm cách làm.


Hà Hữu Nga 
dịch

Nguồn: Le Minh Khai, The Western Intellectual Debates Behind Kim Định’s Ideas, đăng trong trang mạnghttps://leminhkhai.wordpress.com/2015/07/03/the-western-intellectual-debates-behind-kim-dinhs-ideas/

 

 

Sử gia lớn nhất (không được biết đến/không được thừa nhận) của Việt Nam

  LE MINH KHAI
Thứ hai, 13 Tháng 7 2015 16:08

Sử gia Kim Định (1914 – 1997)

Tôi dành mùa hè này đọc các tác phẩm của Kim Định, một linh mục Công giáo, triết gia và sửgia đã viết rất nhiều trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 ở miền Nam Việt Nam. Khi đọc những gì ông đã viết, không cần phải đắn đo để kết luận rằng cho đến nay, Kim Định là sử gia táo bạo nhất và giàu trí tưởng tượng nhất mà Việt Nam đã từng biết đến.

Nói một cách đơn giản, Kim Định là một thiên tài. Tuy nhiên, theo như tôi được biết, không ai có thể nhìn thấy thiên tài trong những gì ông đã làm, nhưng đồng thời, giống như nhiều thiên tài, ông đã đẩy ý tưởng của mình đi quá xa.

Kết quả là ngày nay nhiều người vừa không biết Kim Định là ai, lại vừa bỏ qua tri thức học thuật của ông. Điều này, tôi cho là một sai lầm khủng khiếp.

Tôi xin giải thích lý do tại sao tôi lại nghĩ như vậy.

Trước khi đọc các công trình của ông, tôi chỉ nghe nói về Kim Định và đã chỉ đọc những gì người khác viết về ông. Từ thông tin này, hình ảnh mà tôi tạo ra về Kim Định là một nhân vật siêu dân tộc chủ nghĩa, với một ý tưởng điên rồ là Ngũ kinh của Nho giáo suy cho cùng lànhững sáng tạo của người Việt, và kết quả là, về cơ bản tất cả mọi thứ mà hiện giờ chúng ta nghĩ là văn hóa “Trung Quốc” thì thuở ban đầu lại thực sự là văn hóa “Việt”.

Đúng là Kim Định đã thực sự lập luận như vậy. Tuy nhiên, nẻo đường trí thức dẫn ông đến kết luận này là một nẻo đường đi qua một số ý tưởng học thuật lớn nhất của thế kỷ XX, và đó chính là lý do tại sao tôi lại nói rằng Kim Định được cho là sử gia Việt Nam quan trọng nhất của mọi thời đại (không phải là “giỏi nhất” mà “quan trọng nhất”).

Hành trình trí tuệ của Kim Định đã dẫn ông đi qua các tác phẩm của hai học giả Pháp nổi tiếng, Marcel Granet và Claude Lévi-Strauss.

Marcel Granet vừa là một nhà Hán học và một nhà xã hội học. Ông là một trong những học giả đầu tiên tìm những cách diễn giải xã hội học cho những gì ông phát hiện ra trong các văn bản cổ điển của Trung Quốc. Trong quá trình đó, ông đã cách mạng hóa những cách thức mà mọi người (cả bên trong và bên ngoài Trung Quốc) xem xét về thời cổ đại Trung Quốc.

Nổi tiếng nhất, Granet đã tái diễn giải Kinh Thi (詩經). Trong nhiều thế kỷ các học giả ở Trung Quốc đã giải thích các bài trong Kinh Thi bằng khuôn khổ đạo đức. Tuy nhiên, Granet đã xem chúng như là các sản phẩm của các nghi thức và lễ hội địa phương không liên quan gì đến các diễn giải đạo đức của truyền thống học thuật ở Trung Quốc cả.

Tuy nhiên, có lẽ quan trọng hơn đối với các công trình của Kim Định là, cuốn La Pensée Chinoise Tư tưởng Trung Quốc của Granet. Trong công trình dày dặn và uyên bác này, những gì Granet tìm cách chứng minh chính là các khái niệm trong các văn bản kinh điển Trung Hoa cổ đại chẳng hạn như học thuyết nhị nguyên Âm dương, và thuật số luận Ngũ hành, …vv không chỉ là các khái niệm về những con số, mà là các “biểu tượng” (hoặc những gì mà sau này các nhà cấu trúc luận gọi là các “dấu hiệu”) cho các cấu hình của xã hội, và nếu nhìn vào các hiện tượng như thân tộc và hôn nhân, chúng ta có thể nhận ra bằng chứng của các khái niệm theocách mà các hiện tượng ấy đã được sắp xếp và thực hiện.

Trong khi công trình của Granet với tư cách là một nhà Hán học đã bắt đầu bị chỉ trích bởi các học giả như Bernhard Karlgren vì không phân biệt giữa các văn bản của các giai đoạn khác nhau, thì công trình của ông với tư cách là một nhà khoa học xã hội lại ảnh hưởng đến côngtrình của các học giả như Claude Lévi-Strauss, nhân vật chính trong lĩnh vực nhân học cấu trúc.

Những ý tưởng của Lévi-Strauss xuất hiện chống lại các ý tưởng của các học giả như Bronisław Malinowski. Malinowski cho rằng chúng ta có thể hiểu được các xã hội bằng cách quan sát và giải thích những gì mà chúng ta nhìn thấy.

Mặt khác, Lévi-Strauss lại lập luận rằng những gì mà chúng ta nhìn thấy trong các xã hội trên toàn thế giới là khác nhau. Tuy nhiên, nếu chúng ta di chuyển bên dưới bề mặt của những gìmà chúng ta nhìn thấy và tìm cách hiểu được “cấu trúc” của những ý tưởng thông tin về những gì con người thực hiện, thì chúng ta có thể có được một sự hiểu biết khác, và cuối cùng mới có thể nhận ra được là có những tương đồng trên toàn cầu.

Khi Kim Định đọc các tác phẩm của Claude Lévi-Strauss vào những năm 1960, ông cảm thấy rằng Marcel Granet đã khải lộ những gì là cái “cấu trúc” bên dưới lớp bề mặt ấy – đó chính là âm dương và ngũ hành, …vv.

Hơn thế nữa, ông cảm thấy rằng tất cả những tri thức này đều là “Việt.” Đó không hề là những thứ của “Trung Quốc” sau đó được “nhập khẩu” vào Việt Nam. Đây là những gì mà tri thức học thuật của ông tìm cách chứng minh.

Vậy thì, tại sao Kim Định lại quan trọng đến chừng ấy? Trước hết, ông là sử gia duy nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại, mà tôi biết, là người thực sự đa ngành. Ý tưởng cho rằng học thuật cần phải đa ngành là một ý tưởng được đề cập rất nhiều, nhưng để có phương tiện đa ngành thì học giả phải có được các thông tin “cập nhật” nhất trong các lĩnh vực khác nhau. Đây là điều mà người ta không thấy có trong học thuật Việt Nam. Thay vào đó, nhiều học giả chỉ đơn giản là “chọn” thông tin từ các lĩnh vực khác nhau sao cho phù hợp với một ý tưởng (và thường là một ý tưởng dân tộc chủ nghĩa) mà họ đã có.

Mặt khác, Kim Định luôn luôn cập nhật tri thức học thuật trong các lĩnh vực khác nhau. Ông hiểu Saussure (ngôn ngữ học), Lévi-Strauss (nhân học), Granet, Creel, Needham (tất cả đều là các nhà Hán học), Foucault (triết học), …vv. Và ông đã xây dựng ý tưởng của mình dựa trên ý tưởng của các học giả khác. Đó là những gì thực sự có nghĩa là đa ngành.

Nhưng vấn đề với các tác phẩm của Kim Định là gì? Cũng giống như các vấn đề với học thuật của  Marcel Granet, Kim Định đã không phân biệt giữa các văn bản. Đối với ông, những gì được viết trong Sử ký Tư Mã Thiên hoặc trong Kinh Thi (cả hai đều có niên đại TCN) cũng đềugiống với những gì đã được viết trong Lĩnh Nam chích quái của thế kỷ thứ mười lăm, …vv. Các thông tin trong tất cả các văn bản đó đều có thể được sử dụng để thể hiện sự tồn tại của một “cấu trúc” nghĩa bên dưới các văn bản này. Điều đó thực sự là có vấn đề.

Tuy nhiên, các nhà nhân học như Lévi-Strauss, đã xây dựng ý tưởng của mình bằng cách xem xét các xã hội (“nguyên thủy”) đương đại, mà ở đó các thông tin có được đã không hề được thu thập từ những giai đoạn khác nhau. Điều này, tôi cho rằng, đã làm cho các lập luận như vậy có sức thuyết phục hơn.

Học thuật tiến triển khi các học giả sử dụng lý thuyết để đưa ra các khẳng định táo bạo. Các khẳng định như vậy đôi khi “quá” táo bạo, khiến cho các học giả khác thách thức các khẳng định ấy và xác lập một nhận thức hợp lý hơn. Tuy nhiên, kết quả vẫn là học thuật luôn tiến vềphía trước.

Nói cách khác, sẽ thật tốt khi có được học giả đưa ra các tuyên bố táo bạo (như Edward Said, Benedict Anderson, James Scott, vv), bởi vì nó khiến cho các học giả khác thách thức và sửachữa những tuyên bố đó. Tuy nhiên, để có được điều đó, các học giả thách thức các tuyên bố táo bạo kia, về mặt lý thuyết, cũng phải được cập nhật thông tin như các học giả đã xuất trình các tuyên bố táo bạo vậy.

Đó là điều đã không bao giờ xảy ra với Kim Định. Kim Định đưa ra một số tuyên bố táo bạo trong các thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, làm cho nhận thức của chúng ta về lịch sử Việt Nam tiến (quá xa) về phía trước, nhưng kể từ thời điểm đó đã không hề có ai có được một sự hiểu biết lý thuyết như Kim Định, vì vậy đã không hề có một thách thức hiệu quả nào, hoặcbất cứ sự điều chỉnh nào, về các ý tưởng của ông.

Kết quả là Kim Định hoặc đã bị bỏ qua, bị nhạo báng, hoặc ý tưởng của ông đã bị hiểu lầm.

Đó là một điều đáng hổ thẹn, bởi vì, tôi cho rằng, Kim Định là sử gia Việt Nam duy nhất trong thời hiện đại, đã thực sự đến được với một cách diễn giải mới mẻ về lịch sử sớm của ngườiViệt.

Để gạt bỏ ý tưởng của ông, trước tiên người ta phải có thể gia nhập vào các ý tưởng đó. Cho đến nay, chưa ai thực hiện được điều đó. Một khi ai đó bắt tay thực hiện, thì người đó sẽ thấy rằng có thể có một cái gì đó trong các ý tưởng của ông là sâu sắc (cũng hệt như các học giả vẫn tìm thấy những vấn đề sâu sắc trong các tác phẩm của Marcel Granet), và đó chính là điềusẽ khiến cho tri thức học thuật lịch sử tiến về phía trước. Cho đến thời điểm đó…

Người dịch: Hà Hữu Nga

Nguồn: Le Minh Khai, Vietam’s Greatest (unknown/unrecognized) Historian, đăng trong trang mạng https://leminhkhai.wordpress.com/2015/06/19/vietams-greatest-unknownunrecognized-historian/

 

 

 

GS. Kim Định – Người khởi nguồn học thuyết Việt Triết

  Trong số ít ỏi những cây đại thụ nghiên cứu về lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20, GS. Lương Kim Định (thường biết tới với bút danh Kim Định) nổi lên như một hiện tượng lạ. Khác lạ ở cách thức tiếp cận và xử lý thông tin. Đặc biệt là những suy tưởng, những giả định của ông vượt trước thời đại, mà đến những năm gần đây một phần những suy tưởng ấy đã được khoa học hiện đại chứng minh. Sáng ngày 14-7, tại Trung tâm Văn hóa Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) đã diễn ra buổi tọa đàm tưởng niệm 15 năm ngày mất của cố triết gia Lương Kim Định (1997 – 2012). Buổi tọa đàm do Trung tâm Minh triết phối hợp với Trung tâm Lý học Đông Phương tổ chức. Tham dự tọa đàm có nhiều nhà khoa học tên tuổi. Có lẽ đây là lần đầu tiên ở Việt Nam tổ chức tọa đàm về GS. Kim Định.

Hoa văn trên trống đồng Đông Sơn được GS. Kim Định nghiên cứu rất kỹ GS. Kim Định sinh ngày 15-6-1915 tại Nam Định và mất ngày 25-3-1997. Ông đã để lại một di sản văn hóa đồ sộ với 46 đầu sách về những lĩnh vực triết học, văn hóa, đặc biệt là cổ sử Việt Nam… Xuất thân là một linh mục, GS. Kim Định từng dạy triết học trong nước, sau đó, ông sang Pháp, Mỹ du học. Tuy sống ở nước ngoài trong một thời gian dài nhưng ông vẫn miệt mài nghiên cứu cổ sử Việt. GS. Kim Định có công lớn trong việc xây dựng nền tảng cho triết học Việt Nam và là người đề xướng thuyết Việt triết (Việt Nho) với những trụ cột triết lý: An vi, nhân bản, thái hòa, bình sản. Nhiều học giả trong nước tiếp nhận hướng nghiên cứu và phương pháp luận của ông đã có những công trình học thuật có giá trị.

  1. Kim Định đã chứng minh cho thế giới này hiểu rằng, nền triết lý Việt đã có từ rất lâu đời, thậm chí có trước cả Trung Hoa. Bằng suy luận khoa học, ông đã khẳng định tổ tiên người Việt là người Viêm Việt. Suốt một thời kỳ dài trong lịch sử, dân tộc Viêm Việt sinh sống ở vùng châu thổ ong Dương Tử và đã làm nên văn hóa Việt Nho. Nền văn hóa Việt Nho lấy nhu thuận là cốt lõi, đại biểu cho văn minh nông nghiệp. Sau này, bộ tộc du mục người Hoa đã tràn từ phương Bắc xuống đàn áp, đẩy người Viêm Việt xuống phía Nam. Người Viêm Việt di tản đến khắp vùng Đông Nam Á rồi phân hóa thành nhiều chủng tộc khác nhau. Luận thuyết này 45 năm sau đã được các nhà khoa học khảo cổ và nghiên cứu ADN khẳng định.
  2. Kim Định Một trong những nghiên cứu sâu sắc nhất của GS. Kim Định là về trống đồng của dân tộc Việt. Tinh hoa văn hóa của người Việt đều dồn tụ vào những hình ảnh trên mặt trống. Từ những chiếc trống đồng hoen gỉ, ông nhìn thấy cả lịch sử Việt, văn hóa Việt, triết lý Việt trên chiếc trống đó. Từ hình ảnh trên trống đồng, có thể thấy cuộc sống sinh động của người Việt xưa. Người Việt có hàng trăm điệu hò, điệu múa, nào là múa sinh tiền, múa sắc búa, múa chai, múa trống, múa đèn, múa dậm, múa bông lau… Rồi các trò đua thuyền, kéo chữ, đánh cờ người, rối nước, rối cạn… Đó là những cuộc vui bất tận tỏa ra khắp cả nước. Chỉ có một thứ văn hóa, ấy là văn hóa toàn dân, không hề có chiến tranh tôn giáo hay ý thức hệ. Hơn 50 sắc dân thiểu số với những tín ngưỡng rất khác nhau nhưng vẫn sống bên nhau suốt bao nhiêu ngàn năm hạnh phúc. Đó chính là nét đặc sắc của nền văn minh Lạc Việt, nền văn minh được khắc họa cụ thể trên mặt trống đồng. Mặt trống đồng chính là bộ sử hạnh phúc loài người. Đó có lẽ cũng là khát vọng mà người Việt hướng đến. Triết lý Việt chính là sự thăng hoa tột cùng của hạnh phúc loài người.

Tại tọa đàm, GS.TS Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh: Trong lịch sử nghiên cứu văn hóa Việt Nam, phải đến Lương Kim Định mới trở thành một hiện tượng. Ông là người đầu tiên và cho đến nay là duy nhất viết nhiều sách nhất về văn hóa Việt Nam. GS. TS Trần Ngọc Thêm cũng trích dẫn một nhận định rất đáng suy nghĩ của GS. Trần ở Đài Loan: “Kim Định vượt xa Trần Đức Thảo trong lĩnh vực suy tư và trong tinh thần ái quốc, cũng như sự nhiệt tâm của kẻ sĩ”. Tiếc rằng, nhiều công trình có giá trị của GS. Kim Định cho đến nay được xuất bản rất ít và ít được phổ biến ở Việt Nam.

Huy Văn

Nguồn:https://baomoi.com/gs-kim-dinh-nguoi-khoi-nguon-hoc-thuyet-viet-triet/c/8894559.epi

 

 

Người cả đời tìm triết lý trên trống đồng Đông Sơn

 (VTC News) – Mới đây, bên ấm trà đậm hương Việt, các nhà nghiên cứu cổ sử Việt Nam, trầm ngâm kể về một người, mà họ tôn vinh là triết gia bị quên lãng của nước Việt. Người ấy dành cả cuộc đời nghiên cứu cổ sử Việt, viết tới 46 đầu sách, chỉ để khẳng định rằng, nền minh triết Việt đã có từ mấy ngàn năm trước, trước cả người Trung Hoa. Chuyện này thật lạ!
Người Việt là một phần của cái nôi nhân loại

Người ấy là giáo sư Lương Kim Định, người trọn đời chỉ làm một việc, ấy là giải mã những thông điệp của người xưa, để tuyên bố với thế giới rằng, người Việt không phải là một dân tộc nhỏ bé, nước Việt cũng là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại.

Cố GS. Lương Kim Định sinh ra và lớn lên ở Nam Định. Từng giảng dạy ở Việt Nam. Sau này, ông du học sáng Pháp, rồi Mỹ. Mấy chục năm sống ở nước ngoài, nhưng ông vẫn miệt mài nghiên cứu cổ sử Việt. Ông đã chứng minh cho thế giới này hiểu rằng, nền triết lý Việt đã có từ rất lâu đời, thậm chí có trước cả Trung Hoa.

Bằng những nghiên cứu của mình, ông khẳng định tổ tiên người Việt chính là người Viêm Việt. Dân tộc này vốn ngự trị ở giữa vùng châu thổ ong Dương Tử và đã làm nên văn hóa Việt Nho, một nền văn hóa tinh thần, lấy nhu thuận là cốt lõi, đại biểu cho văn minh nông nghiệp.

Sau này, bộ tộc du mục, ấy là người Hoa, đã tràn từ phương Bắc xuống. Họ mang tinh thần võ biền, đàn áp, đẩy người Viêm Việt xuống phía Nam. Người Viêm Việt di tản đến khắp vùng Đông Nam Á rồi phân hóa thành nhiều chủng tộc khác nhau.

Luận thuyết này được ông đưa ra từ rất lâu rồi, nhưng chẳng ai ong đếm xỉa. 45 năm sau khi ra đời luận thuyết của ông, khi khoa học hiện đại phát triển, ngành khảo cổ nghiên cứu qua nhiễm sắc thể (ADN), đã chứng minh rằng, dân cư Đông Nam Á xuất phát từ một chúng tộc khác người Trung Nguyên.

Heo bản đồ di dân qua nhiễm sắc thể, được các nhà khoa học thế giới công nhận, thì con người hiện đại Homo Sapien, đã xuất phá từ châu Phi đi khắp thế giới. Một nhánh người đi qua Tây Tạng, một nhánh qua Bắc Mông Cổ, gặp nhau ở châu thổ Hoàng Hà, lập ra nền văn minh Trung Nguyên, khởi thủy nền văn hóa Trung Hoa bây giờ.

Một nhánh di chuyển theo ngả Ấn Độ, dừng lại ở châu thổ ong Hồng, và lập ra nền văn hóa Hòa Bình (20.000 – 5.000 năm TCN). Từ đây, họ di cư lên phương Bắc, đến tận ong Dương Tử, ra tận biển, định cư ở các đảo Đài Loan, Nam Dương, Mã Lai.

Lương Kim Định nhìn thấy Việt triết sống động trong đời sống hàng ngày của dân tộc. Nó là những nếp sống, những tư tưởng nằm trong tiềm thức được thấm nhuần qua tiếng nói, ca dao, lời ru, phong tục. Việt triết được thể hiện và phát huy qua những bước chân âm thầm của các bà mẹ Việt, những người bố Việt trên những nẻo đường mòn của dân tộc trong bao thế hệ.

Theo nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy, từ những phát hiện này, cùng hàng ngàn chứng cứ mà ông nêu trong các cuốn sách của mình, ông khẳng định rằng, người Việt đã xây dựng một nền văn hóa nông nghiệp Việt nhân bản và minh triết, mà ông gọi là Việt Nho.

Người Hoa đã học rồi thể chế thành kinh điển, đồng thời cũng làm sa đọa Việt Nho theo tư tưởng của văn minh du mục Mông Cổ.

Từ chứng lý rất mong manh, GS Lương Kim Định cho rằng, chính người Việt là chủ nhân của kinh Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc… Không những thế, tiếng Trung Hoa và cả chữ vuông Hán ngữ cũng là của người Việt!

Đề xuất của GS. Lương Kim Định quả đã gây chấn động, như sấm giữa trời quang khiến những đầu óc yếu đuối hoảng hốt và chống trả ông quyết liệt.

Triết Việt trên trống đồng

GS. Lương Kim Định gần như cả cuộc đời nghiên cứu chiếc trống đồng của người Việt. Tinh hoa văn hóa của người Việt đều dồn tụ vào những hình ảnh trên mặt trống. Ông nhìn thấy cả lịch sử Việt, văn hóa Việt, triết lý Việt trên chiếc trống đó.

Theo GS. Định, những hình người có cánh trên mặt trống đồng đại diện cho Mẹ Tiên, còn hình ảnh vòng ngoài vận hành ở tang trống chính là Rồng Cha. Mẹ Tiên và Rồng cha hợp nhau biểu thị đất trời hòa hợp, là thứ minh triết uyên bác xa xưa.

 

Nét dọc tang trống là Trời, nét ngang là mặt trống là Đất. Hai thứ ấy làm nên thực thể gọi là nhạc khí vũ trụ.

Vũ trụ thể hiện kích thước bao la của trời với đất. Cuộc hòa âm này chiếu giải lên toàn thân trống, tả lại một xã hội hạnh phúc tưng bừng đang ca múa gồm cả trời (mặt trời), đất (thuyền rồng, các con vật) và cả người.

GS. Lương Kim Định đã giành cả cuốn sách chỉ để mô tả triết lý Việt trên chiếc trống đồng. Đã có vô vàn phát hiện thú vị của ông. Thậm chí, những con số cũng đều theo quy ước bí ẩn của văn hóa cổ.

Mặt trời ở giữa mặt trống thay cho trời làm trung tâm lan tỏa sức sống. Mặt trời tỏa ra 14 tia sáng. Rồi đến các vòng ngoài đều chia ra 2 bên chẵn lẻ.

Bên chẵn thì trên nóc nhà có 2 con chim, 6 người, đàn chim 4 cặp. Bên lẻ thì trên nóc nhà có 1 con chim, đoàn người 7, đàn chim 3 cặp. Vòng ngoài cùng chia làm 4 chỉ 4 chiếc hoa quỳ 9 cánh: 4×9=36, cũng có thể chỉ 4 phương. Nhưng mặt trời ở giữa, còn gợi ra suy nghĩ là bông hoa.

 

Hoa quỳ lại có 9 cánh. Số 9 là tiên thiên của huyền sử, dân Lạc Việt lấy số 9 làm quan trọng, nhân với 2 thành 18. 18 chim to, 18 chim nhỏ. Số 18 là huyền số như: 18 ngàn năm Bàn Cổ, 18 đời Hùng Vương, 18 thước cao của ngựa Thánh Gióng…

Từ những hình ảnh trên trống đồng, đã hiện ra đời thực. Trên các đình làng Việt Nam thể hiện rõ nhất triết lý đó. Ðình là cái nhà có ba tầng kiểu nhà sàn: Nóc có chim đậu chỉ trời, người ở sàn giữa, bên dưới là đất. Trong đình cũng có 3 tầng như vậy, tức gồm cả tế tự cho trời, hành chính chia ruộng đất, còn người thì vui sống đình đám chơi xuân.

Điều đặc biệt, là cả trên trống đồng và đình làng Việt, đều thể hiện vạn vật giao hòa, trời và người là một, chẳng có gì tục với thiêng mà phải riêng rẽ. Cuộc sống đời thường luôn tưng bừng đình đám, chấp nhận mọi sinh thú ở đời.

Từ hình ảnh trên trống đồng, có thể thấy cuộc sống sinh động của người Việt xưa. Người Việt có hàng trăm điệu hò, điệu múa, nào là múa sinh tiền, múa sắc búa, múa chai, múa trống, múa đèn, múa dậm, múa bông lau…

Rồi các trò đua thuyền, kéo chữ, đánh cờ người, rối nước, rối cạn… Đó là những cuộc vui bất tận tỏa ra khắp cả nước. Chỉ có một thứ văn hóa, ấy là văn hóa toàn dân, không hề có chiến tranh tôn giáo hay ý thức hệ. Hơn 50 sắc dân thiểu số với những tín ngưỡng rất khác nhau, mà vẫn sống bên nhau suốt bao nhiêu ngàn năm hạnh phúc.

Đó chính là nét đặc sắc của nền văn minh Lạc Việt, nền văn minh được khắc họa cụ thể trên mặt trống đồng. Mặt trống đồng chính là bộ sử hạnh phúc loài người. Đó có lẽ cũng là khát vọng mà người Việt hướng đến. Triết lý Việt chính là sự thăng hoa tột cùng của hạnh phúc loài người.

 

» Bãi đá cổ Sapa là cuốn Kinh Dịch của người Việt? » Lời tiên tri của tổ tiên trên bãi đá cổ Sapa? » Người giải mã bí ẩn bãi đá cổ Sapa » VN: Phát hiện bãi đá cổ chưa từng thấy giữa rừng thẳm » Phóng sự ảnh: Bãi đá cổ Sapa sắp… biến mất » Tận mắt bãi đá có hình khắc chưa từng biết đến (kỳ 2) » Người đọc thông viết thạo chữ Việt cổ! » Chữ Việt cổ – chữ của nền văn minh rực rỡ?


Dương An Phát
Nguồn: https://vtc.vn/nguoi-ca-doi-tim-triet-ly-tren-trong-dong-dong-son-d84812.html

————————————————–

 

NHỮNG SAI LẦM NGỘ NHẬN VỀ CỐ TRIẾT GIA KIM ĐỊNH

 

  Lê Việt Thường 

 

Chúng ta thường nghe câu :”Thiên Tài thường Cô Ðơn”. Lý do là vì THIÊN TÀI (gồm những nhà TƯ TƯỞNG LỚN, những người có sức SÁNG TẠO PHONG PHÚ trong nhiều lãnh vực khác nhau) thường ÐI TRƯỚC người đương thời hàng năm, hàng chục, hàng trăm năm..Hậu quả là thường xẩy ra những điều SAI LẦM, NGỘ NHẬN xoay quanh cuộc đời, tác phẩm của họ. Và số lượng của những điều Sai Lầm, Ngộ Nhận có lẽ có TỶ LỆ THUẬN với sự LỚN LAO của Thiên Tài. Hiện tượng trên bắt nguồn từ sự Hiểu Lầm, Ngộ Nhận THỰC SỰ, nhưng cũng có thể đến từ sự ÁC Ý do tính GANH GHÉT, ÐỐ KỴ của những Ðồng Nghiệp hay của những người khác, hoặc do tính ÐIÊU NGOA, GIAN DỐI của những kẻ theo Cơ Hội Chủ Nghĩa định LỢI DỤNG Thiên Tài cho những mưu đồ DANH LỢI không mấy chính đáng của họ!

Cố Triết Gia KIM ÐỊNH không thoát khỏi THÔNG LỆ trên!

  • A) TÍNH KHOA HỌC

Những điều chúng ta thường nghe liên quan đến tính KHOA HỌC trong tác phẩm của Cố Triết Gia.

Tác phẩm của Cố Triết Gia có thiếu tính KHOA HỌC như điều đồn đãi hay không?

Và tính KHOA HỌC là gì ? Từ ngữ này thường khiến chúng ta liên tưởng đến lãnh vực Khoa Học VẬT LÝ với tính KHÁCH QUAN trong công việc QUAN SÁT, đặt GIẢ THUYẾT, ÐỊNH ÐỀ và THÍ NGHIỆM để kiểm soát tính TRUNG THỰC của các dữ kiện được quan sát với ÐỊNH ÐỀ.

Và tính KHÁCH QUAN thường được hiểu là Nỗ Lực của đương sự nhằm QUAN SÁT Sự Kiện, Biến Cố như nó xảy ra, cũng như việc tránh đem THÀNH KIẾN, Ý Kiến CHỦ QUAN của mình vào công việc.

Thật ra, đó chỉ là Thái Ðộ của một nhà Khoa Học LÝ TƯỞNG! Nhưng với các Khoa Học VẬT LÝ, nhờ đặc tính CỤ THỂ, HỮU HÌNH gắn liền với các khoa này, nên người ta cũng đạt được một số Kết Quả, Dữ Kiện có BẰNG CHỨNG, KIỂM SOÁT được.

Tuy nhiên, ngay ở lãnh vực Khoa Học VẬT LÝ, tiêu chuẩn KHÁCH QUAN đã bị đặt thành vấn đề với khoa LƯỢNG TỬ. Lý do là ở bình diện HẠ NGUYÊN TỬ, sự vật được quan sát thay đổi theo vị trị và nhãn quan tức theo CHỦ QUAN của người quan sát, do đó tiêu chuẩn KHÁCH QUAN thông thường đã không áp dụng được ngay ở địa hạt VẬT LÝ LƯỢNG TỬ.

Huống hồ là ở lãnh vực Khoa Học NHÂN VĂN!

Do đó, tiêu chuẩn TỐI HẬU của tính HIỆU LỰC (Validity) của GIẢ THUYẾT KHOA HỌC đối với Cộng Ðồng các Học Giả QUỐC TẾ ngày nay là tính KIÊN ÐỊNH, PHÙ HỢP ( Consistency) của Giả Thuyết Khoa Học nêu trên với tất cả các KHIÁ CẠNH KHÁC của cái KHUNG KHOA HỌC (1)

Tiêu chuẩn KHOA HỌC có tầm QUAN TRỌNG BẬC NHẤT nêu trên của Cộng Ðồng của các nhà Nghiên Cứu QUỐC TẾ ngày nay đã được Cố Triết Gia KIM ÐỊNH áp dụng từ lâu tức ít nhất 40 năm trước đây với khoa HUYỀN SỬ của  Ông qua cụm từ MẠCH LẠC NỘI TẠI (Cohérence Interne). Sau đây là lời giải thích của Cố Triết Gia về phương pháp KHOA HỌC nêu trên áp dụng cho khoa HUYỀN SỬ là một khoa NHÂN VĂN như sau:

“Vậy cần lặn sâu mới tìm ra MẠCH LẠC NỘI TẠI là cái sẽ thay cho sự MINH NHIÊN KHÁCH QUAN, một đặc điểm của Khoa Học THỰC NGHIỆM mà NHÂN VĂN không thể có; nhưng không phải vì vậy mà được quyền muốn nói gì thì nói, làm thế thì những điều nói ra thiếu giá trị. Muốn có giá trị, muốn cho HUYỀN SỬ đạt vinh dự của một nền KHOA HỌC thì phải nắm được MẠCH NGẦM của một nền VĂN HÓA. Vì thế, phải đưa ra QUY LUẬT để tìm ra cái MẠCH LẠC nọ. Thiếu những quy luật đó thì huyền sử chỉ là tán dóc.” (2)

Các QUY LUẬT được đề cập ở trên là hệ thống DỤNG, TỪ, Ý , CƠ mà Cố Triết Gia đã áp dụng vào khoa HUYỀN SỬ của Ông, rất phù hợp với KHUNG KHOA HỌC (Scientific Framework) nằm trong tiêu chuẩn KHOA HỌC tối hậu của cộng đồng các Học Giả Quốc Tế vừa nêu trên.

Phần trình bày trên đây cho thấy là phương pháp HUYỀN SỬ của Cố Triết Gia không những không thiếu tính KHOA HỌC như lời đồn đãi, mà còn đáp ứng những đòi hỏi của các Tiêu Chuẩn MỚI NHẤT của khoa NHÂN VĂN ngày nay! Nhưng có lẽ vì phần lớn những người chỉ trích chỉ căn cứ trên những THÀNH KIẾN về tính KHOA HỌC thường dựa trên các Tiêu Chuẩn của Khoa Học THỰC NGHIỆM nên có lẽ đó là nguyên nhân chính yếu về những NGỘ NHẬN về tính KHOA HỌC của tác phẩm của KIM ÐỊNH.

  • B) TÍNH HÀN LÂM

Một NGỘ NHẬN khác là về tính HÀN LÂM của KIM ÐỊNH. Những ai có may mắn tiếp cận Cố Triết Gia trong thời sinh tiền của Ông có thể thấy những hòm lớn đựng những tài liệu, những tập “Fiches” dày đặc mà Ông ghi chép lại trong suốt cuộc đời, vốn “gia tài” học vấn “khổng lồ” của Ông. Và nếu để ý thì sẽ thấy những lập luận của Ông hầu hết đều có dựa trên các khám phá hay các tài liệu của các Học Giả QUỐC TẾ có tầm vóc trong nhiều lãnh vực nghiên cứu khác nhau.

Nhưng vì sức SÁNG TẠO của Cố Triết Gia quá PHONG PHÚ: hết tác phẩm này đến tác phẩm khác ra đời với một vận tốc có thể gây “chóng mặt” cho ai hằng theo dõi con đường sáng tác của Ông, nên Cố Triết Gia không có nhiều thì giờ soạn một bản THƯ TỊCH đầy đủ về các NGUỒN TRÍCH DẪN.

Tuy nhiên, ở giai đoạn cuối đời, khi cho xuất bản lại tác phẩm “Cửa Khổng” vào năm 1997, Cố Triết Gia đã soạn lại một bản THƯ TỊCH rất đầy đủ của tác phẩm nêu trên và rất đúng tiêu chuẩn HÀN LÂM.

Trong tương lai, chỉ cần một nhóm nhà Nghiên Cứu họp lại đem áp dụng phương cách nêu trên cho các tác phẩm khác của Cố Triết Gia thì ta sẽ có một bản THƯ TỊCH đầy đủ, đúng tiêu chuẩn HÀN LÂM cho toàn bộ tác phẩm KIM ÐỊNH.

  • C) TRIẾT LÝ NHÂN SINH

Không những tác phẩm của KIM ÐỊNH đáp ứng các Tiêu Chuẩn KHOA HỌC ( lẽ dĩ nhiên với một quan niệm ÐÚNG ÐẮN, chứ không phải dựa trên những THÀNH KIẾN sai lầm về tính KHOA HỌC), và HÀN LÂM (nếu có thì giờ hoàn tất các công việc vừa nêu trên), nhưng QUAN TRỌNG hơn cả là tác phẩm còn là CẨM NANG của một nền TRIẾT LÝ NHÂN SINH Chân Thực không chỉ là đối tượng của SUY TƯ, mà còn của CẢM XÚC và SỐNG THỰC.

Do đó những ai có may mắn biết đến Con Người cũng như Tác Phẩm của KIM ÐỊNH khá sớm sủa, rồi dùng tác phẩm như bức CẨM NANG cho đời mình để SỐNG, CHỨNG NGHIỆM, cũng như để ÐÀO SÂU và KHAI TRIỂN bằng vốn KIẾN THỨC thu thập được, bằng KINH NGHIỆM sống thực cũng như bằng THỂ NGHIỆM Tâm Linh thì sẽ có một cuộc sống VIÊN MÃN về phương diện TINH THẦN, VĂN HÓA.

  • D) NGUYÊN NHÂN NGỘ NHẬN

Lý do chính yếu của những NGỘ NHẬN nêu trên có lẽ là vì tác phẩm KIM ÐỊNH như có người nhận xét rất đúng là một “Khu Rừng” VĂN HÓA, nên không khéo thì sẽ đi LẠC ÐƯỜNG!

Nếu ai theo dõi từ đầu con đường Văn Hóa của Cố Triết Gia, thì sẽ nhận thấy các lãnh vực mà Ông nhấn mạnh đến là VĂN HÓA TRIẾT LÝ, chứ không phải LỊCH SỬ KHẢO CỔ. Năm 1970, với “Việt Lý Tố Nguyên”, Ông đưa ra thuyết VIỆT NHO theo nghĩa NHO của người VIỆT như một Giả Thuyết làm việc hầu tạo sự hào hứng trong giới sinh viên và nghiên cứu. Do đó, “Việt Lý Tố Nguyên” được mở đầu bằng những lời lẽ như sau:”Ðây là công trình của một cuộc khảo cổ KHÁC THƯỜNG không dừng ở khảo cổ, ở bác học, nhưng phóng tầm mắt ra bên ngoài, bên trên, bên dưới khảo cổ, lịch sử, bác học”.(3)

Ở chỗ khác, Ông sắp hạng thứ bậc cho Văn Hóa, Lịch Sử và Khảo Cổ như sau: KHẢO CỔ bị sắp hạng chót vì là môn chỉ bàn về những vật BẤT ÐỘNG, trên Khảo Cổ là LỊCH SỬ vì SỐNG ÐỘNG hơn, còn trên Lịch Sử là VĂN HÓA vì TOÀN DIỆN hơn, nhất là TRIẾT LÝ vì môn này giúp đời sống có ÐƯỜNG HƯỚNG. Ở chỗ khác, Ông tuyên bố Triết Thuyết AN VI và VIỆT NHO chiếm cỡ 90 đến 95% trong khi Triết Sử chỉ chiếm nhiều lắm 5 đến 10% trong toàn bộ tác phẩm của Ông, huống hồ là KHẢO CỔ! (4)

Do đó, thật là điều ĐÁNG NGẠC NHIÊN khi có ngưới có lẽ vì mới đọc được một vài tác phẩm của Cố Triết Gia nên lầm tưởng KHẢO CỔ có địa vị Quan Trọng trong tác phẩm của Ông, nên “huyênh hoang” tuyên bố là “nắm” được Tư Tưởng KIM ÐỊNH, trong khi trong thực tế không biết đến ngay thứ tự Ưu Tiên của các lãnh vực trong Tác Phẩm của Cố Triết Gia.

Ngay trong lãnh vực nêu trên, đương sự cũng có vẻ không nắm vững những Từ Ngữ hay Khái Niệm Sơ Ðẳng của lãnh vực Nghiên Cứu, do đó có vẻ là TAY NGANG hơn là Tay Thiện Nghệ!

Lê Việt Thường


CHÚ THÍCH

(1) Encarta, 1995, “Scientific Method”

(2) Kim Định, “Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam”, Dân Chúa, HK, 1982, tr.41

(3) Kim Định, “Việt L‎‎ý Tố Nguyên”, An Tiêm, 2001, trang bìa sau

(4) Kim Định, “Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam”, idem, tr. 37

(ảnh

(ảnh GiadinhNet.vn)

 

TƯỞNG NHỚ TRIẾT GIA KIM ĐỊNH NHÂN KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH

 

 Quang cảnh hội thảo tưởng niệm. Ảnh: Trần Tố Loan


TƯỞNG NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH 

CỐ TRIẾT GIA LƯƠNG KIM ĐỊNH (15.06.1915- 15.06.2015)


Ngày 6 tháng 7 vừa qua, Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Minh Triết tổ chức hội thảo tưởng niệm nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của học giả Lương Kim Định (15.06.1915- 15.06.2015). Đông đảo các nhà khoa học, các nhân sĩ trí thức đã tới dự và phát biểu. 

KỶ YẾU hội thảo, được phát đến mỗi đại biểu tham dự gồm các bài sau: 

 

1- Lương Kim Định một gương mặt sĩ phu lớn thế kỷ XX – Nguyễn Khắc Mai 
2- Triết gia Kim Định với Minh triết Việt – Hà Văn Thùy. 
3- Những đóng góp mang tính nền tảng cho văn hoá Việt Nam của  Triết gia Lương Kim Định – Lê An Vi.

4- Lương Kim Định và lời cảnh tỉnh “Đạo mất trước, nước mất sau” – Ngô Sỹ Thuyết
5- Tôi đã gặp học giả Kim Định như thế nào ? – Đỗ Ngọc Thành.
6- Lương Kim Định và Minh Triết về sự sáng khôn – Lê Nguyên Cẩn.

7- Thư Chúc mừng của ông Nguyễn Cảnh Hậu
8- Sử gia lớn nhất (không ai biết đến/không được công nhận) của Việt Nam – Liam Kelley
9- Dấu tích cội nguồn văn minh – Lục Văn.
10- Các tác phẩm của Triết gia Lương Kim Định.

.

 

 

 Nhà nghiên cứu Trần Văn Đoàn (Đài Loan) đang phát biểu tại hội thảo. 

Chùm ảnh của Trần Tố Loan


Chúng tôi đăng tải 03 bài của các tác giả Nguyễn Khắc Mai – Hà Văn Thùy và Ngô Sỹ Thuyết (trường hợp có yêu cầu, sẽ đăng thêm các bài khác).

LƯƠNG KIM ĐỊNH MỘT GƯƠNG MẶT SĨ PHU LỚN THẾ KỶ XX

Nguyễn Khắc Mai

 

Vào ngày 15 tháng 6 năm 1915, tại Làng Trung Thành Nam Định, một người Việt Nam đã ra đời. Như sách Thi thiên trong Kinh Thánh, Quyển III, mục 75, câu 6 viết: ”Vì chẳng phải phương Đông, phương Tây hay là từ phương Nam mà có sự tôn cao đến.” Đó là sự báo trước của Thiên Chúa về một “sự tôn cao đến” với Đất Nước, với nền văn hóa Việt vào thế kỷ XX, một thế kỷ có vị trí lịch sử rất đặc biệt của Việt Nam chúng ta chăng.

 

Lương Kim Định, suốt đời học triết học, dạy triết học, sống và làm việc hết mình vì một nền Triết Học Việt. 82 tuổi đời, Ông sống trọn trong thế kỷ XX, vừa là con người của thời đại (như tên một tác phẩm văn học Nga “L’héros de notre temps), là chứng nhân của lịch sử, Ông cũng là người của thời đại mới góp công tạo dựng lịch sử văn hóa Việt Nam, và để lại một gia tài văn hóa đồ sộ… 45 tác phẩm, trong đó có 8 quyển chưa in, và 5 quyển đã thất lạc, tập trung đề tài về lĩnh vực triết học.

 

Nếu lịch sử văn hóa Việt thế kỷ XX ghi dấu nhiều gương mặt nhà văn hóa lớn, thì phần nhiều là văn nhân , thi sĩ, nghệ sĩ. Rất hiếm là gương mặt của nhà khoa học, đặc biệt hiếm là nhà tư tưởng, nhà triết học. Lương Kim Định thuộc lớp của hiếm hoi này. Vì thế Ông là một của quý và hiếm của văn hóa Việt thời hiện đại.

 

Khác với nhiều người, chủ yếu “thuật nhi bất tác”, Lương Kim Định đã đem lại một đóng góp quý báu và quan trọng, vừa thuật, vừa tác. Có những người như Hoàng Xuân Hãn, như Nguyễn Đăng Thục… họ học một ngành khoa học, kỹ thuật, rồi nửa đời, tựa như người đã leo đến một đỉnh núi, rồi từ đỉnh cao này bước sang một đỉnh núi khác và để lại dấu ấn công tích của mình cho học thuật. Lương Kim Định suốt đời thực hành đúng như sách Đại học của cổ nhân, làm một kẻ quân tử (người trí thức, kẻ sĩ, trau dồi học vấn triết lý “như trác như ma, như thiết như tha” để thuật một nền triết học cổ Việt, lại để từ đó sáng tạo ra những phạm trù mới mẻ cho văn hóa Việt.

 

Nhiều người cho rằng một cái gốc lớn của văn hóa Việt là của “Tàu”, Lương Kim Định nói ngược lại, mà không hồ đồ chút nào. Ông nói có sách mách có chứng. Điều kỳ lạ là những phát kiến của Ông đã được những khám phá khoa học về sau, càng ngày càng chứng minh sự có lý của những luận điểm mà Ông đã nêu ra. Ông đưa ra luận điểm : Tộc Việt, được gọi là Bách Việt đã tràn ra chiếm ngự một vùng đất đai rộng lớn , sau này đươc gọi là “TÀU” Với cái tên Tsin (Tần) mà châu Âu gọi thành Chine, China, Sino…Chính họ là chủ nhân văn hóa đã đúc nên cái phôi, cái căn cốt, cái nguyên bản (archetype) của Trung Quốc cho đến ngày nay. Chỉ có điều, ông chưa chính xác khi cho rằng tộc Việt này đã từ Hymalaya tràn xuống Đông Nam. Ngày nay nhiều chứng cứ khoa học đã đính chính được điều đó. Thậm chí giới nghiên cứu Trung hoa hiện nay cũng đã phải đính chính nguồn gốc Bắc phương của mình và đã công bố rằng cội nguồn chủng tộc thậm chí cả cái căn cơ văn hóa là cũng từ Lạc Việt. Những dấu vết của văn minh, văn hóa Việt, ngày nay vẫn còn đầy rẫy trong xã hội Trung Hoa. Ông đã rọi một cái nhìn vừa tổng hợp, vừa mới mẻ để khám phá lịch sử Trung hoa, vừa du mục, vừa nông nghiệp. Trong trường kỳ lịch sử Trung hoa quả nhiên cuộc đấu tranh giữa vương đạo và bá đạo, giữa yếu tố văn hóa phương Nam, và văn minh du mục Bắc phương cho đến nay vẫn còn dai dẳng: ”Trác Lộc chí kim vị nhược hưu”. Tương truyền trận chiến Trác Lộc là trận chiến mà Hoàng Đế đánh bại được Xi Vưu (lãnh tụ của các tộc Bách Việt Phương Nam).

 

Lịch sử cổ đại “Trung hoa”, theo Ông, không phải là lịch sử một nhà nước mà chính là lịch sử của một vùng , một nền văn hóa. Bởi từ xa xưa cho đến Tần, mới có nước Tần, ngày ấy Trung Nguyên chỉ là danh xưng một vùng đất, một vùng văn hóa. Cho đến cuối đời Hán, sử sách còn ghi “đi khắp nơi chẳng thấy đâu là Hán địa (đất Hán). Nghĩa là triều nhà Hán vẫn còn cai quản một vùng đất rất hẹp. Mãi cho đến vài ba trăm năm trước đây thôi vùng đất phía nam Lưỡng Quảng vẫn còn là đất của Đại Việt, của văn minh Đại Việt. Rất nhiều di chỉ văn hóa Lạc Việt được lưu giữ, khám phá ở đây. Giờ đây chỉ riêng khảo cổ học ở vùng đất này đã xác minh phán đoán của Lương Kim Định là đúng đắn. Người Bách Việt, trong đó phần quan trọng là Lạc Việt, chính là chủ nhân đã làm chủ vùng đất rộng lớn từ châu thổ Hoàng Hà, Dương tử, cho đến vùng Việt Đông và Lưỡng Quảng. Vùng đất ấy xưa kia là lãnh thổ của những “ Nước Cổ”, có tên là Văn Lang, Xích Quỷ, Lạc Việt…Chính họ là chủ nhân văn hóa, đã “đúc” nên những cái phôi ban đầu, từ ngôn ngữ, chữ viết, những nghi ngẫu (archetype) là nền móng của những triết lý vũ trụ và nhân sinh, cho đến những “kỳ thư” (kinh sách) của cổ văn hóa…mà ngày nay Trung Hoa đang vinh dự chiếm giữ. Ông đã công phu chứng minh điều mà Khổng Tử từng nhận định. Sức mạnh của phương Nam-vùng Bách Việt là sức mạnh của văn hóa “ôn nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, quân tử cư chi” Công lao của Ông là đã tạo ra những luồng sáng mới soi vào lịch sử Bách Việt. Vì thế có học giả đã cho rằng, Ông là một sử gia vĩ đại (đã bị vô minh, quên lãng).

 

Ông đề xuất thuật ngữ Việt Nho, khái niệm Việt Nho và xây dựng phạm trù Việt Nho. Chứng minh và khẳng định phạm trù Việt Nho như là Nho nguyên thủy, phân biệt rất rõ với Hán Nho, Tống Nho…sau này, như là một sự tha hóa. Đây là một chỉ báo, hơn nữa là một hướng nghiên cứu học hỏi về văn hóa Việt nói chung và tư tưởng Việt nói riêng. Chính từ khám phá này, sẽ soi rọi cho chúng ta nhìn thấy cái lõi Minh triết Việt trong lịch sử văn hóa Việt cũng như của những nhà văn hóa, tư tưởng Việt.

 

Từ phạm trù Việt Nho, Ông xây dựng hệ thống triết lý, đặt tên là Triết lý An Vi, với các cột trụ : Thái Hòa, Nhân chủ, Tâm Linh. Ông xây dựng một số phạm trù của phương pháp luận, tư duy để làm cái quy, cái cũ từ đó dò lần từng bước vào cơ cấu đặng tìm ra cái hồn cái lõi của các nghi ngẫu, ngẫu tượng là những archetype. Từ đó khám phá giải thích cơ cấu của Việt lý – những triết lý căn bản của Việt Nho. Những phạm trù “lô gich” để làm như cái quy cái cũ trong tay của Nữ Oa và Phục Hy. Đó là: Dụng, Số, Tượng, Từ, Cơ, Chế. Qua những phạm trù “lô gích đông phương” này, Ông dò tìm cho đến tận những cái phôi của tư tưởng văn hóa Việt. Phạm trù Việt Nho và hệ thống triết lý An vi dàn trải ra trong hơn 40 đầu sách với cả vạn trang in là một cống hiến to lớn, góp vào làm phong phú, sâu sắc cho cấu trúc nền văn hóa Viêt Nam hôm nay.

 

Ông để lại một gia tài văn hóa đồ sộ. Về những vấn đề cơ bản của Triết học có: Cửa Khổng (Nguyên Nho), Nhân Chủ, Chữ Thời, Dịch kinh linh thể, Cơ cấu Việt Nho, Tinh hoa ngũ điển, Gốc rễ triết Việt, Việt triết nhập môn, Cẩm nang Triết Việt, Những dị biệt Triết lý Đông Tây, Lạc thư Minh triết. Về Lịch sử : Hồn nước với lễ gia tiên, Nguồn gốc văn hóa Việt Nam, Triết lý cái đình, Hùng Việt sử ca, Kinh Hùng khải triết, Sứ điệp trống đồng, Văn lang vũ bộ…Về văn hóa, giáo dục, lối sống :Định hướng văn học, Tâm tư, Vấn đề quốc học, Hiến chương giáo dục, Phong thái An vi, Trùng phùng đạo nội, … Đặc biệt , ông để lại ba đầu sách về triết lý chính trị thế giới, khu vực và Việt Nam: Đạo trường chung cho Đông Á, Hoa kỳ và thế chiến lược toàn cầu, Hưng Việt.

 

Về phương pháp luận, Ông là người thực hiện được khẩu hiệu rất uyên bác của Đông Kinh Nghĩa Thục :”Á Âu chung lại một lò. Đúc nên nhân cách mới cho là người”. Ông học hỏi đến nơi đến chốn Triết Đông (đặc biệt là Trung Hoa), nghiền ngẫm văn hóa Việt, học hỏi triết Tây từ cổ điển đến hiện đại, đọc kỹ những nhà Trung hoa học hàng đầu của thế giới… Hiếm có nhà nghiên cứu, nhà triết học nào làm được như Ông. Ông dụng công xây dựng bộ công cụ lôgic kiếu Đông phương để áp dụng cơ cấu luận trong khảo sát văn hóa. Ông là người mở đầu, đi trước trong ứng dụng phương pháp tư duy phức hợp, hệ thống để nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, lịch sử. Riêng về huyền sử, ông là người đã đem đến một cảm quan mới, mà tôi gọi là huyền sử học, để cho chúng ta đọc cổ tích , thần thoại nước nhà. Khác với “Tạ chí đại Tràng”, mọi thứ tín ngưỡng đều quy về tục thờ “đá”, ”cây”, ”ác thú”, ”lũ lụt”, ”sấm chớp”… Kim Định rất đề cao giá trị người trong những “Nhân thoại”.

 

Tôi không thể không nói đến Minh triết. Sau Ngô Thì Nhậm, Kim Định là người đã đem trả lại Minh triết, vốn bị hạ thấp, quên lãng cho văn hóa Việt. Với Kim Định, chúng ta bắt đầu có những tư duy dầy dặn hơn cho phạm trù Minh triết. Và khi chúng ta bắt gặp một kết luận chắc nịch của học giả phương Tây hiện đại: ”Tiếp sau những thất vọng đối với các triết thuyết, ngày nay, Minh triết đang là chủ đề chính của tư duy đương đại”, càng thấy công lao và tính tiền phong triết học của Ông.

 

Khi tưởng nhớ Ông, chúng ta không nghĩ rằng những công trình của Ông là toàn bích, không lẫn chút ít sỏi sạn bên trong, nhưng chỉ có những đầu óc thiển cận, biệt phái, cực đoan nên chỉ biết“chấp” sỏi sạn mà vứt bỏ luôn châu ngọc trong đó.

 

Tưởng nhớ Triết gia Kim Định, tôi hình dung tới một cây cổ thụ sum xuê, tỏa bóng. Dẫu cổ thụ nào cũng có cành cộc, nên chớ làm con kiến leo ra leo vào. Hãy cố trèo cho đến cành cao, bằng không thì đứng tựa thân cổ thụ nhìn xa ra một chân trời mới, tìm cho mình một Đạo trường , để cho mình được sống An vi, Nhân bản, như cánh diều buộc nơi gốc cây, bay bổng trên trời cao, vẫn níu giữ, gắn liền với nguồn cội. Tôi chợt rùng mình khi nhớ lại lũ vô đạo, bất nhân, u mê đã từng đốn hạ những cây cổ thụ.!

 

Kính cẩn ghi chép để tưởng nhớ “Một Cõi Người” của Cố Triết gia Lương Kim Định./.

Nguồn: https://xuandienhannom.blogspot.com.au/2015/07/tuong-nho-triet-gia-kim-inh-nhan-ky.html

 

——————————————————————————————-

..

HÀNH TRÌNH KIM ĐỊNH Và AN VIỆT

Vũ Khánh Thành

..

,,,,,

Ngay sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm ổn định được miền Nam Việt Nam, các sinh viên du học nước ngoài lục tục kéo về xây dựng đất nước.  Trong số những người tôi biết hồi đó có Cha Vũ Khánh Tường, Cha Lương Kim Định, Cha Trần Thái Đỉnh, Cha Lê Tôn Nghiêm và Thầy Hải Linh.  Cha Tường tiến sĩ giáo sử, về Việt Nam năm 1956 làm bí thư cho Đức Cha Phạm Ngọc Chi, lúc đó là Tổng Ủy Trưởng Di Cư do Tổng Thống Diệm đề cử ổn định việc định cư các gia đình từ miền Bắc vào Nam, trong số này nhiều phần là người Công Giáo.  Các khu di cư này phần nhiều về phá rừng, khai khẩn đất đai vùng Hố Nai Biên Hòa, Hốc Môn, Gò Vấp, Cái Sắn v.v …. Cha Tường sau đó cũng được đề cử làm Hiệu Trưởng Trung Học Nguyễn Bá Tòng Saigòn.

Khi cha Tường và các cha, các thầy về vinh qui bái tổ, một buổi lễ rất lớn được tổ chức tại Giáo Xứ Trung Chánh của cha Trần Quốc Phú, linh tông với cha Tường. Lúc đó tôi còn bé, làm cậu giúp lễ tại nhà thờ Trung Chánh được điều động tiếp bàn, bê đồ ăn  vv…  Tôi nhớ cha Tường nhất vì ngài rất bệ vệ, đẹp trai, nói năng lưu loát kể cả pha trò cho mọi người cười vui,

Riêng về Cha Kim Định, sau này được nghe kể lại, khi hồi hương từ Paris về Miền Nam, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã sai ông Trần Văn Lắm lúc đó là Chủ Tịch Quốc Hội VNCH ra phi trường Tân Sơn Nhất đón tiếp và chào mừng Kim Định.

 

  1. GIAI ĐỌAN KHỞI ĐẦU

Khi mới vào miền Nam, các Giáo Phận miền Bắc qui tụ ngay giáo dân, các Chủng Sinh lập Tiểu Chủng Viện hay Đại Chủng Viện mang tên tân Bùi (Bùi Chu), tân Thanh (Thanh Hóa),  tân Hà (Hà Nội) ….  Các người dân bình thường cũng theo các linh mục đi phá rừng làm rầy mang tên nhở về quê cha đất tổ như vậy không khác gì người Mỹ gốc Anh lấy New York, New Hampshire, New South Wales.  Người Mỹ lúc đó tài trợ một tỉ mỹ kim cho chương trình di cư của người Bắc vào Nam là một triệu người, mỗi người của mổi gia đình được cấp 700 đồng tiền miền Nam lúc đó, cùng với dụng cụ cuốc xẻng v.v… Sau này lớn lên tôi được đọc về sự tài trợ này, thực là một phép lạ cho người Mỹ và Tây Phương về tính cần cù, chịu khó đáp ứng mau lẹ của người Việt Nam.  Phản ứng của người Miền Nam với việc di cư của người miền Bắc vào Nam lúc đó, họ không mấy nhiệt tình và thường nói “đất nước độc lập rồi còn vào Nam làm gì ”.

Cha Kim Định dạy học ở Đại Chủng Viện Lê Bảo Tịnh Gia Định từ 1958 do cha Trần Văn Hiến Minh làm Giám Đốc.  Được 3 năm thì theo lệnh của Giáo Quyền, các chủng viện di cư phải sát nhập vào Chủng Viện bản xứ.  Các cha giáo sư tiểu chủng viện Bùi Chu phụ trách trường Nguyễn Bá Tòng thay cha Tường.  Cha Tường về Đắc Lộ ngã tư Bảy Hiền.  Cha Kim Định cũng được cha Tường mời về Đắc Lộ giúp xứ ở đây và đi dạy Đại Học Văn Khoa Sàigon. Từ năm 1961 này tôi được sống gần cha Kim Định.  Lúc đó tôi đã học lớp 11 chuẩn bị thi Tú Tài phần 1.  Bản tính tôi thích đọc sách nên hồi đó có thầy Nguyễn văn Thiện cũng học cha Kim Định ở ĐCV Bùi Chu, cho tôi mượn đọc cuốn Tự Chiêu Minh Đức và cuốn Tâm Đạo là giảng khóa đầu tiên của Kim Định.  Tôi chẳng hiểu gì hết cho đến khi lên Đại Học, học lớp dự bị Văn Khoa với cuốn Cửa Khổng.  Tôi cũng học nhưng không có cảm nghiệm gì cả.  Chỉ học để trả bài lấy điểm lên lớp thế thôi.  Các buổi tối, sau khi ăn cơm xong ở Đắc Lộ, cha Kim Định thường đi bách bộ, có khi đi một mình, có khi đi nói chuyện với người khác.  Tôi mạnh dạn xáp vô nói chuyện với cha.  Tôi nhớ một lần tôi nói với cha “đọc sách cha sao con thấy hiểu về cuộc sống, về đạo Thiên Chúa khác quá”. Cha bảo chắc Thành bắt đầu hiểu về  triết lý nhân sinh rồi đấy.  Cứ cố gắng đọc đi.  Tây họ gọi sự chuyển biến này là cuộc “rửa tội siêu hình học” (Baptême métaphysique), không có chuyển biến siêu hình là chưa “ngộ”, chỉ có tri thức suông chứ chưa có nhất quán trong tư tưởng.  Điều này sau này tôi mới nhận rõ ra là nhiều người bạn của tôi trí khôn rất giỏi nhưng không hiểu được triết lý An Vi của Kim Định và Kim Định có hàng ngàn học trò, nhưng những người hăng say trong triết lý nhân sinh như căn bản của cuộc đời mình thì thực không có là bao.  Các giảng khóa sau tôi bắt đầu học với Kim Định về Chữ Thời, Nhân Bản, Những Dị Biệt Giữa Hai Nền Triết Lý Đông Tây, Cơ Cấu Việt Nho, Vũ Trụ Nhân Linh … Từ đây tôi đã hiểu phần nào Triết Lý Kim Định.

Các sách in tại Việt Nam lúc đó đều phải có phép của Bộ Văn Hóa Thông Tin VNCH và giáo quyền Công Giáo (phần lớn sách Kim Định do cha Trần Văn Hiến Minh đọc, trách nhiệm sau đó đề vào mấy chữ “Cunlicentiis Debitis” –  được phép in trên sách đã in).  Khi sang Hoa Kỳ không còn kiểm duyệt nữa nhưng phải nộp bản đăng ký chủ quyền tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ.

Một vài chuyện vui tôi kể ra đây coi như vớ vẩn nhưng nó như những giọt nước thấm dần về triết lý nhân sinh tôi lãnh hội từ Kim Định.

Một lần đi bách bộ với Kim Định ở Đắc Lộ, bọn trẻ con chơi ngoài đường nói rất lớn tiếng chửi rằng “Đắc Lộ ăn c”.  Lý do chúng chửi tục như vậy là vì buổi tối, cổng phải đóng, chúng không được chơi đùa, đá banh trong sân của trường học khu Nội Trú Đắc Lộ. Cụ Định thấy chúng chửi thế, cụ dừng lại cười, nói với tôi và một số chú khác cũng đang tụm năm tụm ba nói chuyện trên đường rằng,  “bọn trẻ này ngu quá, có mỗi một cái của quí mà cho người khác ăn, mai ngày lấy gì mà hưởng tứ khóai trên đời.  Mọi người đi tu ở đây không cần dùng mà có ai dám cho ai ăn của quí đó đâu ?  Chúng mày đúng là trẻ con, không ai thèm chấp”.  Thế là mọi người cười rồ lên.

Một lần khác cụ Định với một số các bậc vị vọng đi xuống Bình Chánh thăm cha Đinh Xuân Hải.  Trong khi đi đường cụ thấy hai con chó đang giao hợp với nhau.  Cụ Định bảo “Hai con chó này hư quá, trước mặt các đấng các bậc mà chúng mày cứ tự nhiên làm ăn như vậy à.  Nhưng thôi, tha cho chúng mày vì chúng mày có mùa mới làm ăn được còn con người thì tứ thời bát tiết, lúc nào cũng làm được cả cho nên mới ra trăm tội ở đời vì cái sự này.  Ngày xưa khi mới tạo thiên lập địa, Chúa bảo, hãy sinh sản cho đầy mặt đất thì tha thứ được chứ bây giờ mặt đất đã đầy rồi thì phải tiết chế hoặc hạn chế sinh sản chứ đâu có cứ đẻ mà không đủ ăn, không dạy dỗ thì xã hội sẽ hỗn loạn.”   Ai nấy đều cười về sự tiếu lâm của Kim Định.

Cụ Định đi dạy học lúc nào cũng mặc bộ áo dài trắng dân tộc. Đi xích lô đến trường dạy học.  Sau này một học trò biếu Thầy Kim Định một chiếc xe Jeep nhà binh đã phế thải, sửa lại, sơn màu khác màu xe quân đội để thầy lái xe đi dạy, tiết kiệm được thì giờ. Những lớp Triết Đông chuyên biệt của cụ thì số sinh viên tham dự bình thường nhưng những lớp Dự Bị thì chật cứng.  Số người nghe phải ngồi ra cả hành lang hoặc  có nhiều lần phải học ngòai trời, nhà trường đưa bàn giáo sư ra ngòai và mắc micro giảng dạy cho sinh viên nghe rõ.  Số sinh viên đến nghe cụ nói về triết Việt thật đông, kể cả những người không học ban triết cũng đến nghe.  Tôi còn nhớ, cuốn Cửa Khổng mỗi lần in 5000 cuốn và đã in lại nhiều lần tại Việt Nam.   Trào lưu về nguồn và tìm hiểu triết Việt lên rất mạnh.  Hồi đó miền Nam tuy đã có chủ quyền về chính trị nhưng về văn hóa ảnh hưởng Pháp còn rất nặng nề, tới nỗi gọi là Đại Học Văn Khoa mà triết Việt chỉ được xếp 8 giờ một tuần, sau dưới áp lực của sinh viện, được tăng lên 12 giờ.  Một Giáo Sư Khoa Trưởng Văn Khoa còn tuyên bố chỉ có triết học Trung Hoa chứ làm  gì Việt Nam có triết lý !  Cụ Khoa Trưởng này ngay những năm gần đây, khi thỉnh thỏang viết bài trên báo Thông Luận cụ ấy vẫn lạnh lùng nói Việt Nam không có triết lý, không có tư tưởng, đại lọai cùng lập trường theo mới, hòan tòan theo mới không chút do dự.  Theo mới tức là Âu hóa như nhóm Tự Lực Văn Đòan hay nhóm Thông Luận hiện nay. Các giảng khóa của cụ Định ngày đó cũng chỉ đề lấp lửng chứ đâu dám nói ra là Triết Lý Việt Nam ! Hiểu được hòan cảnh lúc này chúng ta mới thấy sự can đảm của Kim Định trong việc khôi phục hồn nước, khôi phục chủ quyền văn hóa cho dân tộc.

Ít năm sau khi sách vở đã ra được khá và số sinh viên cũng như người hâm mộ đã tăng lên, Kim Định mới dám chính thức gọi triết lý của mình là Triết Lý An Vi đặt trên nền Việt Nho là Nho Giáo nguyên thủy của Việt tộc đã được chắt lọc khỏi những yếu tố du mục do Hán Nho đem vào.

Một chuyện khác tôi vẫn nhớ Kim Định là khi làm lễ tại nhà thờ Đắc Lộ. cụ đi từ phòng áo ra bàn thờ, dáng dấp của cụ như một ông tiên, cách đi như một người vũ.  Hai tay cụ cũng nhẹ nhàng mềm mại như một vũ công.  Tôi quan sát rất kỹ hành vi cử chỉ của cụ khi làm lễ, rất siêu thóat bay bổng.  Tôi hỏi cụ điều này.  Cụ trả lời:  LỄ đi với NHẠC và VŨ.  Trong Đông Phương của ta, Lễ được tổ chức rất quan trọng.  Vua mỗi năm chỉ cử hành Lễ tế Nam Giao một lần.  Trước khi Tế, vua và quan phải chay tịnh cả tháng đặng đón nhận hội nhập linh thiêng giữa thiên và địa.  Sau vua đến làng xã, mỗi năm cũng Lễ Thành Hòang một lần cùng với nhiều lễ tiết khác.  Các cuộc lễ này cũng rất long trọng, ít ra 3 ngày,  mọi người ăn uống no say, có ca múa và nhiều trò chơi.  Các cô cậu thì được tự do hẹn hò.  Sau mùa lễ thì có đám hỏi để thành thân đôi lứa.  Xuống tới cấp bậc gia đình thì là Tết Nguyên Đán, Lễ Giỗ của những người thân trong gia đình, đều xóay trọn vẹn vào tâm linh.

Tôi hỏi thêm cụ, lễ trong thiên chúa giáo cũng có nhạc và vũ.  Nhà thờ Việt Nam nào khi có lễ lớn cũng có ca đòan hát rất hay, các đội vũ, đội dâng hoa cũng rất điêu luyện, nó khác thế nào so với Lễ thầy vừa nói.  Cụ nói, trong đạo thiên chúa ngày nào cũng có lễ.  Các Lễ này nhằm thờ phượng thiên chúa, cầu xin ơn của ngài.  Lễ của đông phương là “Tế thần như thần tại”.  Tức là tin có thần ở đó cũng được, không có thần ở đó cũng không sao.  Động tác chính của lễ là chính tác động của người tế, nhằm củng cố mối quan hệ giữ người với người, giữa người với tiền nhân mà cùng cực là Văn Tổ là tổ của các tổ tức là Nhân tính của con người, là Tâm Linh, nơi giao hội giữa Trời và Đất.  Nhạc hay vũ trong nhà thờ là để ca tụng Thiên Chúa , khác với Lễ, Nhạc. Vũ trong triết lý nhân sinh phát xuất từ tâm cảm của mình, hòa nhịp với vũ trụ, của trai gái biểu lộ yêu đương, của mối tình nguyên thủy của đáy lòng con người.

Năm 1966-67 tôi tốt nghiệp Cử Nhân Giáo Khoa Triết Tây tại Đại Học Văn Khoa Saigon.  Nghe lời cha Giám Đốc Đắc Lộ, tôi xuống Đại Chủng Viện Xuân Bích Vĩnh Long học Triết và Thần Học đồng thời ghi danh làm Cao Học với Giáo Sư Kim Định.  Thời gian tu học này, thầy Kim Định thường khuyên tôi cố theo đuổi để thành Linh Mục mặc dù khó lắm vì Thành đã hiểu triết lý nhân sinh nhưng phải cố để sau này huấn luyện chủng sinh, giáo dục bổn đạo để thành người trước khi thành Tu Sĩ,  Linh Mục, giáo dân.  Tôi nhớ mãi lời khuyên này nhưng không thể theo đuổi con đường tu đạo được. Được gần 2 năm, tôi trở về Saigon tiếp tục dạy học và nghiên cứu viết luận văn Cao Học của tôi cho tới năm 1970 tôi ra ứng cử Nghị Viên ở Tỉnh Biên Hòa.  Đắc cử, tôi lao vào họat động chính trị, xã hội và đi dạy,  trong khi vẫn thường xuyên thăm hỏi và trao đổi với thầy Kim Định.  Lúc này thầy đi dạy nhiều hơn.  Ngòai Đại Học Văn Khoa Saigon, thầy còn dạy ở Đại học Minh Đức, Thành Nhân, Vạn Hạnh, Đà Lạt. Thỉnh thỏang lúc kẹt thầy điện thọai cho tôi đi dạy thế ít giờ cho đến năm 1975, mọi sự hòan tòan xụp đổ.  Tôi kẹt ở lại, thầy đi thóat.  Tôi rất mừng về chuyện này.  Không ai có thể ngờ được về cuộc đổi đời của mình.

 

  1. GIAI ĐỌAN GẶP LẠI KIM ĐỊNH Ở NƯỚC NGÒAI

Ra được nước ngòai tháng 10 năm 1979, người đầu tiên tôi đi tìm là xem Thầy Kim Định ở đâu.  Năm 1980 nhân đọc một tờ báo xuân có đăng quảng cáo của anh Đăng Trường, sinh viên cũ của Kim Định, tái bản cuốn Hồn Nước Với Lễ Gia Tiên tại Hoa Kỳ.  Tôi viết thư cho nhà xuất bản nhờ chuyển cho Thầy Kim Định, báo tin tôi đã thóat khỏi Việt Nam và đang ở Anh.  Thầy hồi âm liền và chúc mừng tôi đồng thời khuyến khích tôi trau dồi Anh Ngữ để có thể viết được Anh ngữ trôi chảy hầu có thể quảng bá triết lý An Vi và Việt Nho cho thế giới.

Làm cho chương trình Tị Nạn của Bộ Nội Vụ Anh nhận 25 ngàn người Việt từ Hồng Kông sang Anh Quốc, tôi biết chương trình sẽ chấm dứt vào năm 1982, tôi đã chuẩn bị mình sẽ làm gì, học gì.  Tôi viết thư xin ý kiến thầy Kim Định.  Thầy khuyến khích tôi học tiếp Cao Học.  Đây là nguyên văn lá thư của Thầy:

“SaigonSan Jose 23/VIII/81.

Thành yêu dấu,

Hôm qua nhận được thư Thành đề ngày 18/8 liền đi cậy người ta đánh máy chứng nhận gửi kèm đây.  Quên không nhớ năm nào thi, còn nói assistant Minh Đức thì cũng như Đắc Lộ mà lại có tang chứng.  Minh Đức có lúc cũng đặt ở Đắc Lộ, còn làm cao học ra thuyết trình thay cho giáo sư cũng là truyện bên này họ hiểu được.  Nếu cần thì thêm vào tôi sẽ biên lại và thường thì phải gửi thẳng đến cơ quan liên hệ.  Nó có tính chất confidential hơn.  Nếu muốn làm thế thì cho địa chỉ và người nhận tôi sẽ gửi cho họ.

Họ sẽ chọn 5, 6 người nhưng trong số bằng nào giáo sư Việt Nam ?

Còn truyện hàn lâm, nếu được thì may lắm để cho anh ngữ lên độ viết được.  Coi vậy mà khó đấy.  Với tuổi lớn nó không feel được nữa.  Còn hàn lâm bên này là cái cực khổ nhưng cũng phải giấn.

Về đề tài mai ngày mà viết sách thì thiết nghĩ nên có một chương (hay một phần) nói về tình trạng triết Đông trước khi bộ An Vi ra đời để người đọc thấy rõ tính chất cách mạng của triết lý nọ.  Phần này có thể dùng A Source Book in Chinese Philo by Wing-Tsit-Chan.  Princeton University Press 1963. Hồ Thích, Phùng Hữu Lan.  Bên ta: Thục, Kim, Phan Bội Châu.

Sau đó đến triết an vi thì nên nói ít điềm:

  1. Về cơ cấu là lối mới mà bộ đó theo dùng số độ, hình đồ, huyền thọai, huyền sử đối chiếu, tổng quan.  Đó là phương pháp.  Về nội dung thì chia 2 phần: 1. là an vi tức nhân chủ, khác với nhân bản ở chỗ nhấn về hàng dọc trời đất, không có dị đoan nào nữa, cũng không dùng pias fraus nhưng là triết lý con người.  Trình bày trong thế đối chiếu với Ấn Độ (bái vật) hay cổ điển Tây Âu và cả mới (ý hệ) còn đây tâm linh.
  2. Phần 2 nói về nguồn gốc gọi là Việt Nho vì lấy tài liệu cơ bản tự Nho và Việt.  Cái  may của nó là đặt Việt trước Nho.  Nhờ cơ cấu.  Chú ý đến số, hình, chế, khảo cổ   (Trống Đồng) mà dám làm cuộc cách mạng đó.  Phần này tuy đã trình bày trong  chín quyển sau của bộ nhưng chưa được chính xác như nay trong những quyển mới nhất như Kinh Hùng (sắp ra) Sứ Điệp sẽ ra tiếp.  Văn Lang Vũ Bộ v.v …Nếu cần thì  sau sẽ xé và gửi cho.

Đại để đó là cái khung tổng quan.  Sẽ tùy đó mà rút ra từng phần hay tóm lược để làm luận án nhỏ hoặc to.  Nhưng đây nói sơ, sau còn phải nói dài tùy theo plan của Thành đưa ra.  Tôi chỉ giúp thêm ý.  Thí dụ huyền thọai Thôi Vỹ tôi đang làm căn cứ cho bài “Những Chặng Tiến Của Triết Việt” đã gửi cho Thành chưa ?  Cháu gái nay thì nói tiếng Anh giỏi hơn bố rồi chứ.  Có thể đã lưu lóat và chỉ vài năm nữa thì như Anh.  Mong cho gia đình sang sớm.  Nghe nói về tính cách di tản như vậy tôi cũng yên lòng vì bên này tôi ý theo dõi tình trạng các nước khá sát nút.  Nhờ có báo US News và Ti Vi.

Thôi chúc mọi sự tốt lành.      ĐỊNH LƯƠNG.

Theo sự gợi ý của Thầy, tôi đã cố moi óc để viết, dù không có một cuốn sách,  một bài báo trong tay, tôi đã viết được trên một trăm trang A4 viết tay để gửi cho trường SOAS (School of Oriental and African Studies) thuộc Viện Đại Học London.  Cũng chẳng có ai sửa Anh Ngữ cho tôi, cứ viết sao gửi vậy.  Sau vài tháng trường gọi tôi lên phỏng vấn và trắc nghiệm Anh Ngữ cùng với tất cả các sinh viên khác, họ nói chuyện một đề tài rồi yêu cầu sinh viên viết lại xem có hiểu đúng ý người thuyết trình không.  Tôi chẳng hy vọng gì vì anh ngữ hồi học ở Việt Nam là sinh ngữ hai, lại chẳng đi học thêm ở đâu cả, chẳng làm sở Mỹ, chẳng có cơ hội tiếp xúc với người nước ngòai làm sao khá được.  Nào ngờ tôi được nhận nhưng rất tiếc trường nói rằng, họ không có Giáo Su bảo trợ cho Luận Văn Cao Học của tôi.  Họ khuyên tôi sang học Khảo Cổ về Phật Giáo.  Tôi chấp nhận vì nghĩ rằng đây là cơ hội tốt để trau dồi Anh Ngữ.  Mỗi lần trở lại trường Đại Học, giáo sư và sinh viên chỉ ngồi gợi ý và thảo luận với nhau, sau đó họ cho hàng chục cuốn sách bảo đến thư viện tìm đọc rồi thảo luận lần gặp kế tiếp.  Tôi chới với vì với sinh viện khác, một tuần lễ họ đọc được dăm ba cuốn, còn tôi một cuốn không xong.  Vừa đọc vừa tra tự điển, nản chí quá.  Nhưng đến giờ học tôi nói sự khó khăn của tôi và chỉ trình bày một đề tài trong mớ sách tham khảo, ngầm ý rằng, các bạn đọc nhanh hơn tôi sẽ cho tôi biết tóm tắt các sách khác.  Cầm cự được gần một năm, tôi báo cho Thầy Kim Định tôi phải bỏ cuộc vì ngòai việc đọc sách ra, nhà trường còn bắt các sinh viên Cao Học phải đi làm tòan phần, hay bán phần.  Học Cao Học là nghiên cứu riêng của mình.  Tôi đã nhận đi làm vệ sinh văn phòng vào sau 5 giờ 30 chiều.  Thay vì nhà thầu cho tôi như hợp đồng là làm 4/5 tiếng một buổi, họ bắt tôi làm 8 tiếng một buổi tối tức là mỗi ngày làm tới 1 hay 2 giờ sáng.  Quá vất vả tôi bỏ học và bỏ làm sau khi đã cố gắng được gần một năm và mất luôn tiền đặt cọc 2 ngàn đồng bảng Anh.  Tôi cũng chẳng mất công kiện tụng, vì đã có việc làm về tài chánh (Financial Consultant) lo mượn tiền cho bà con mua nhà, mua cơ sở kinh doanh, đầu tư, tiết kiệm, bảo hiểm … Tôi đã thành công vượt bực.  Vừa làm kinh doanh, vừa bắt đầu lập Cộng Đồng Tị Nạn Việt Nam tại 2 thành phố Hackney và Islington từ 1982.  Đến năm 1986 tôi tách thành phố Hackney đứng độc lập với Islington thành Hội An Việt (lúc này để phù hợp với tình thế phát triển của người Việt, đến định cư lập nghiệp nhiều hơn ở Hackney, tôi dịch chữ An Việt thành “Người Việt An Cư Lạc Nghiệp =  An-Việt means Well Settled” và chỉ nhận một số chọn lọc hội viên, không nhân danh tòan cộng đồng Việt Nam để khỏi bị đảo chính như đã xẩy ra nhiều nơi và dễ theo đuổi con đường của mình.

 

  1. GIAI ĐỌAN KIM ĐỊNH TIẾP TỤC SÁNG TÁC

Thầy Kim Định đã bị một giai đọan khủng hỏang tinh thần trầm trọng sau ngày 30.4.1975 trong một ý thức sâu thẳm khôn cùng mà thầy luôn nhắc lại một cách thấm thía:  “Đạo mất trước, nước mất sau”.  Câu nói này lúc trước tôi đã nghe thầy nói nhiều lần nhưng chỉ ở ngòai tai y như những lời cựu TT Nguyễn Văn Thiệu nói “Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả” – hay câu “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” .  Ai ở miền Nam ngày đó đều hiểu là những câu tuyên truyền, chẳng ai bàn luận, chẳng ai bận tâm.  Nhưng khi đã trải qua sau những ngày 30.4.1975 mới thấm tới tận đáy lòng của mình.  Cụ Định đã viết “ … và ngày 30.4.75 khi tai họa sụp xuống thì từ đáy một suối bất tận nước mắt cứ tuôn trào ra như từ muôn con tim thổn thức của tiên tổ, không cho tôi giảng giải gì được nữa.  Cứ đang nói là nước mắt tuôn trào, tôi rất xấu hổ mà không làm cách chi cầm lại được.”  Phải đến năm 1978 cụ mới bắt đầu cầm bút lại để sửa cuốn “Căn Bản Triết Lý Trong Văn Hóa Việt Nam” thành cuốn “Hồn Nước Với Lễ Gia Tiên”, tên nguyên thủy của cuốn sách mà khi còn ở Việt Nam, khi xuất bản lần đầu, phải mang một tên khác cho có tính cách hàn lâm.  Sách do anh Đăng Trường, một sinh viên cũ của cụ ấn hành, tháng 8/79 tại San JoseCalifornia.  Trong 10 năm trời này (1978-1988), Kim Định đã ra đuợc 10 cuốn cộng với 22 cuốn đã xuất bản tại Việt Nam để hòan chỉnh trọn bộ Kinh Điển Việt Nam mà cụ đặt tên là Cửu Khâu, Bát Sách. Ngũ Luận, Tam Phần, và Thái Bình Minh Triết. Tất cả là 7,617 trang sách ! chưa kể những sách chưa in và những sách đã bị thất lạc . Tất cả tòan bộ Kim Định đã viết là 45 cuốn (Xin xem thư mục ở Tiểu Sử Kim Định).

Việc in sách Kim Định trong thời gian này do HT Kelton xuất bản.

Năm 1984 Kim Định đi Đài Loan, tham dự Hội nghị triết học Quốc Tế tại Đại Học Đông Hải. Tham Luận của Kim Định là “Vai Trò Của Nho Giáo Trong Thế Giới Ngày Nay”.

Năm 1987 Kim Định tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Khổng Học Với Thế Giới Ngày Nay tổ chức tại Đài Bắc, Đài Loan.  Cùng đi với Kim Định là Giáo Sư Linh Mục Vũ Đình Trác. Tham Luận của Kim Định là “ Đạo Trường Chung Cho Đông Nam Á”.  Hai bài tham luận này và vài bài khác, sau này đuợc in thành sách với tựa đề “Đạo Trường Chung Cho Đông Nam Á” thay vì Thị Trường Chung Âu Châu  đang được các nước Âu Châu thành lập trong thời điểm này.

Tháng 7 năm 1988 Kim Định đi Brighton Anh Quốc tham dự Hội Nghị Triết Học Thế Giới để gặp một số nhân vật quan trọng. Vì thì giờ hạn hẹp tôi đã xuống Brighton gặp Thầy Kim Định sau đó thầy đi Pháp rồi qua Hòa Lan và trở về Hoa Kỳ đi  Batavia khởi  đầu các lớp huấn Luyện Cán Bộ An Vi với anh Nguyễn Bỉnh Duy.  Sau lớp huấn luyện này, thầy đi Úc theo lời mời của Bác Sĩ Nguyễn Văn Vinh và hiền thê Hùynh Thị Sáu (học trò của thầy). Thầy cũng gặp Bs Trần Đại Sỹ và bào huynh Võ Sư Trần Hữu Quyền …  là những người tổ chức các buổi nói chuyện cho Thầy ở Melbourne, Sydney và vài thành phố khác vô cùng thành công.

(Xin xem thơ của Thầy ngày 19.7.1988 và thư mời của Cộng Đồng người Việt tại Hòa Lan).

Thư ngày 19.VII.88 thầy viết:

“Thành thân yêu,

Mọi sự xuôi chỉ chưa mua được vé máy bay San Jose London.  Gọi ba lần mà hãng du lịch không tìm ra chỗ. Nhưng đang cậy vài chỗ mua.  Tôi định đến London 23 hoặc 24.  Đi xuống đại hội triết rồi về với anh em và nói truyện 28. Đi Hòa Lan 29 thì có lẽ tôi lấy train đi Paris gặp anh em An Việt ở Paris vì Lộc (Lê Xuân Lộc) mới sang cho biết mấy điều rất thuận lợi để nối kết.  Ở vài ngày đọan mồng 2 hay 3 sẽ về San Jose (2 hay 3 vì còn tùy mua vé máy bay để 2 ngày flexible cho dễ mua vé.  Vé Úc họ mua rồi mà chưa nhận được để đi xin Visa).  Đi Úc 2-19 tháng 8  xong 2 chuyến đi Úc và Âu thì An Việt đã có chân trên quốc tế.  Khi sang sẽ đưa sách Gốc Triết Việt, và hi vọng cả tranh Trống Đồng mới.  Bài Huấn Từ gửi xem trước 1 mình để … đọc cho những chiến sĩ trước khi ký kết lời hứa”.

Chào.      KIM ĐỊNH

Tôi tự lấy máy bay đi Hòa Lan gặp thầy Kim Định và gặp gỡ anh em bên Hòa Lan.  Cuộc gặp gỡ được tổ chức rất chu đáo và có hàng trăm người tới tham dự trong đó có một số anh em từ Đức và Đan Mạch qua.  Sau ngày họp tôi theo Thầy Kim Định đi thăm khu lấp biển lấy đất của công trình thủy lợi Hòa Lan.  Thầy rất khâm phục việc trị thủy này và mong muốn Việt Nam sẽ  học được để phát triển cho xứ sở, mở rộng việc canh tác, nuôi cá v.v…

Ở Hòa Lan ít ngày, Thầy Kim Định và tôi đi Đan Mạch để tiếp xúc với anh em bên đó.  Sau Đan Mạch thầy đi Pháp rồi trở về Mỹ.  Tôi về lại Anh Quốc.

Đến đây tôi có thể kết thúc sự nghiệp văn hóa của Kim Định như sau

Kim Định là người đầu tiên “đã bày tỏ mối cảm tình thâm sâu với Triết Đông vì nhận thấy trong đó một nền nhân bản chân chính.  Trong khi đào sâu thêm, ông cho là đã khám phá ra một điều thú vị thứ nhì:  Đạo Nho trước hết là của Việt Nam, còn người Trung Hoa đến sau chỉ làm cho hòan bị cũng như về sau làm cho sa đọa ra Hán Nho.  “Sứ mạng của Triết Đông, ông nói, là phải trả lại cho Nho Giáo sự chính truyền của chủ cũ .  (NXB An Tiêm – HCGD 1970  trang bìa).

Nhận định như trên của Nhà Xuất bản An Tiêm đã tóm tắt 2 trụ cột chính của sự nghiệp Kim Định;

–   Điều thứ 1Kim Định đã làm một  việc như Khổng Tử, san định lại nguyên Nho hay Việt Nho.

Vì xét cho cùng, khởi nguồn từ huyền sử  với những vị như Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa cho mãi tới hơn sáu trăm năm trước tây lịch mới có một Khổng Tử ở nước Tàu san định lại nguyên Nho hay Việt Nho và người cũng là đại diện cuối cùng của nền Minh Triết này và từ đó tới đầu thế kổ 20 nguyên Nho đã bị bẻ quẹo, hay xuyên tạc để củng cố đế quyền. Và cũng mãi tới đầu thế kỷ này mới có một người làm một việc giống như Đức Phu Tử bên Tàu khi xưa.  Có nghĩa là hơn 26 thế kỷ mới lại có người đưa Đạo Nho trở lại vị trí đích thực của nó.  Người đó lại là người Việt tên Lương Kim Định”.  (Nguyễn Việt An, đọc trước giờ hạ huyệt).

–   Điều thứ hai: Bách Việt đã làm chủ miền nam Trung Quốc trước khi bị Mông Cổ xâm lăng.

Điều này gây tranh cãi nhiều đó là qua khảo cổ, dân tộc học, xã hội học, văn hóa tỉ giảo, ca dao tục ngữ, phong tục học, ngôn ngữ học, phân tâm học, nhân chủng học và nhất là Cơ Cấu luận … Kim Định đã khám phá ra Việt tộc tức Bách Việt đã làm chủ miền Nam Trung Quốc trước khi bị người Mông Cổ xâm lăng.  Người Bách Việt đã biết trồng lúa, nhìn vũ trụ đặt nền tảng cho Kinh Dịch, có chữ viết tượng hình, trai gái múa hát mà có Kinh Thư.  Không phải là nhà khảo cổ, Kim Định nhường cho những khám phá mới mà ngày nay đã thật rõ nét qua những công trinh của Tiến Sĩ  William Solheim, Tiến Sĩ Stephen Oppenheimer (Địa Đàng Phương Đông), nhà di truyền học SW Ballinger, hội nghị tại Đại Học Berkeley với “The Origins of Chinese Civilisation” đã xác tín cơ sở khoa học cho học thuyết Kim Định: Người nguyên thủy từ Phi Châu qua Ấn Độ đến Đông Nam Á tới Úc Châu.  Một nhánh khác từ Đông Nam Á lên Trung Hoa qua Siberia và Mỹ Châu. (S. Oppenheimer – Out Of Eden). Hết thời du mục người Mông Cổ đã xâm lăng miền Bách Việt nông nghiệp, đẩy khỏang 30% dân Bách Việt tứ tán khắp nơi, sau thành nước Thái, Miến, Miên Lào, Indo, Malay, Đại Hàn, Nhật Bản ….  Nhóm Việt duy nhất còn giữ được văn hóa nguyên thủy, tên Việt, chạy về phương nam, lập ra nước Việt Nam ngày nay. 70% dân Bách Việt còn lại đồng hóa với người Mông Cổ thành người Hoa Hạ, người Hán, tức người Trung Hoa hiện nay (Mông Cổ phương nam).  Như vậy những thành tựu văn hóa xuất hiện trên đất Trung Hoa trước 2600 TCN đều là sản phẩm của người Việt Nam.

Từ sau 2600 năm TCN, người Bách Việt bị mất đất, mất chủ quyền chính trị nhưng do số dân đông và văn hóa cao nên văn hóa Việt giữ vai trò chủ đạo trong văn hóa Trung Nguyên.  Nhờ đấy tạo nên thời hòang kim trong lịch sử Trung Hoa.  Ở thời đại này, tiếng Việt hòa nhập với tiếng nói của chủng Mông Cổ và là chủ thể của ngôn ngữ Trung Hoa.  Trí thức Việt–Mông kế thừa văn hóa của Bách Việt sáng tạo ra nền văn hóa Trung Hoa rực rỡ.  Trong vai trò lãnh đạo xã hội, người Hán-Mông Cổ khai thác và phát triển văn hóa của người Việt lên tầm cao mới nhưng cũng dần dần lái nó sang tinh thần du mục” (Xin đọc thêm HàVăn Thùy).

Thuyết Việt Nho và An Vi của Kim Định không những cho Việt Nam mà còn cho tòan khối Đông Á nhận lại nền Minh Triết của mình.  Kim Định đã đề nghị lập một “Đạo Trường Chung Cho Đông Nam Á” rất được các học giả Trung Quốc và thế giới trân trọng đón nhận.

Mở đầu cuốn “Việt Lý Tố Nguyên” Kim Định viết:

“Đây là công trình của một cuộc khảo cổ khác thường, không dừng lại ở khảo cổ, ở bác học, nhưng phóng tầm mắt ra bên ngòai, bên trên, bên dưới, khảo cổ, lịch sử, bác học, để cố tìm ra những nét căn bản chạy ngầm xuyên qua lịch sử nước nhà, nhưng tính chất có ngay từ đầu và sẽ còn mãi với dân tộc, nên gọi là Tố theo nghĩa bản lai cố hữu.  Độc giả sẽ nhận ra lối khảo cổ như trên, chứa rất nhiều tia sáng lạ kỳ vào con đường chúng ta phải đi đến đợt văn minh chân thực.  Như thế sự quay về học lại nguồn gốc nước nhà dưới mọi khía cạnh văn minh.  Văn hóa, định chế, sử, địa, văn chương … không còn là một việc khảo cổ suông trong thư viện nữa nhưng chính là giúp vào việc kiến quốc, tìm ra và củng cố tinh thần dân tộc, đặt nền tảng vững chắc cho nền Quốc Học ngày mai vậy.”

(Trang bìa sau NXB An Tiêm 1970).

Một điều rất thú vị tôi xin nêu ra ở đây là một nhà văn hóa xã hội chủ nghĩa của đảng cộng sản Việt Nam tên là Nguyễn Huệ Chi đã viết một bài trong cuốn TỪ ĐIỂN VĂN HỌC Bộ mới, NXB Thế Giới 2003, từ trang 754 đến trang 758, Nguyễn Huệ Chi chú ý đến Kim Định là Linh Mục Thiên Chúa Giáo, chỉ nghiên cứu triết học và văn hóa và Kim Định đã nêu nổi bật nguồn gốc Nho Giáo trong tiến trình nghiên cứu.  Nguyễn Huệ Chi không đả động gì đến triết lý An Vi mà Kim Định đã để cả đời với 45 tác phẩm để xây dựng cho dân tộc.   Nguyễn Huệ Chi cho là cuốn Cửa Khổng là tất cả tư tưởng Kim Định.  Ông không nhắc nhở gì đến các tác phẩm khác, không nói gì đến việc Kim Định đã đập phá tan tành triết lý hữu vi giết người mà theo Heidegger (triết gia lớn nhất của Đức) nói Triết học Tây Phuơng đặt nền tảng trên hữu hoặc vô, đi tới đâu là gieo máu và nuớc mắt tới đó.  Thứ triết học nhị nguyên đó đã tựu thành mọi tai ương cho nhân lọai là: Chủ nghĩa thực dân, chế độ kỳ thị chủng tộc và chế đô cộng sản.

Nguyễn Huệ Chi không công nhận Kim Định là triết gia (chỉ nhắc tới Cao Xuân Huy và Trần Đức Thảo) như câu kết của bài việt  “…. Một hệ thống vấn đề không kém quan trọng đang là ẩn số cần được tiếp tục giải đáp trong các ngành Khoa Hoc Xã Hội và Nhân Văn Việt Nam”.  Vì hạn chế sống trong xã hội chủ nghĩa, Nguyễn Huệ Chi đã không nhắc đến các ngành khác như Đạo Học, Tôn Giáo, Thần Học, Tâm Linh … cũng có ý nghĩa với vận mệnh, cứu cánh của con người.  Từ sự phủ nhận của nhà cầm quyền cộng sản với sách vở, tư tưởng của Kim Định, bài của Nguyễn Huệ Chi đã được chấp nhận để đưa vào Từ Điển Văn Học, cũng là điều đáng lưu ý , đáng hoan nghênh.

Một số phê bình khác về Kim Định tập trung nơi cách trình bày thiếu tiêu chuẩn hàn lâm của Kim Định.  Tôi xin trưng dẫn một nhận định tiêu biểu của Cố Luật Sư Cung Đình Thanh:  “ Kim Định đã viết nhiều mà lại bất cần đến logic, cũng chẳng để ý đến việc dẫn chứng những sách tham khảo, dù ai cũng biết là ông đọc thiên kinh vạn quyển, lúc nào cũng có thể thực hiện được những việc này một cách dễ dàng.  Bởi vậy, chỉ những ai có cái căn bản Việt Học như ông, có cái tâm như tâm ông mới cảm được ông; nếu không dễ cho là ông nói vu khóat, nói không chứng cớ.  Tôi xin nói ngay, dù vô cùng ngưỡng mộ GS Kim Định và đồng ý với ông về một số điểm trong vấn đề nguồn gốc văn hóa Việt Nam nói chung và tư tưởng Việt nói riêng, nhưng chúng tôi không đồng ý về phương pháp ông sử dụng và sẽ không dùng những phương pháp kiểu này để sọan thảo quyển Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam”.  Cố Luật Sư Cung Đình Thanh viết tiếp:

“Tuy nhiên, ngay đây chúng tôi muốn đặc biệt trình bày với quí anh và bầu bạn khắp nơi là:  có một điều lạ kỳ chứng tỏ sức sống của người Việt vô cùng mạnh mẽ là chính tại giảng đường ngôi trường hơn 20 năm trước GS Kim Định đã rao giảng thuyết trên, tại thành phố mang tên Hồ Chí Minh, một người can đảm khác là Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Ngọc Thêm, cũng đang rao giảng những điều tương tự.  Quyển sách làm nền cho những bài giảng của ông Thêm được chính Bộ Giáo Dục chính quyền hiện tại chấp thuận, được trường Đại Học Tổng Hợp Saigòn ấn hành, được các giáo sư nổi tiếng của chế độ giới thiệu và hoan nghênh.  Như vậy có thể nói là đã được chính quyền xã hội chủ nghĩa mặc nhiên đồng thuận.  Quyển sách đó mang tên “Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam”, ấn hành năm 1996.  Tất nhiên việc làm của ông Thêm cũng không tránh được những đả phá gay gắt, kiểu như  “hơn 20 năm sau, TS Trần Ngọc Thêm lặp lại theo kiểu photocoppi hầu hết những ý tưởng quá táo bạo, quá động trời, ngược lại sử sách hơn hai ngàn năm nay của Kim Định” (trang 268 – Phê bình phản phê bình của Trần Mạnh Hảo, 1966) và “ Đến đây, chúng tôi có thể kết luận rằng, hầu hết những luận điểm gọi là khoa học rất “mới mẻ” trên của Trần Ngọc Thêm, nghĩa là “những phán quyết động trời” như vừa trình bày, đều được chiết ra từ những cuốn sách đã dẫn của Kim Định.  Thậm chí cả đến cách lập luận của ông Thêm hầu như cũng đều sinh ra từ ông Định.  Đó là phương pháp luận phi khoa học mà chúng tôi gọi là phương pháp truyền thuyết luận, thần thọai luận, ngữ nghĩa luận, linh cảm luận được góp chung trong cái rọ phiếm luận” (Trang 272 sđd).  Cố Luật Sư Cung Đình Thanh viết thêm:

“Chúng tôi chẳng cần biết ông Thêm có photocoppi hay không thuyết của ông Kim Định, chỉ biết ông là người can đảm và rất có công.  Bởi nếu không phải là ông hay những người khác như ông thì một người “ở ngòai” như ông Kim Định hay như chúng ta làm sao có thể được phép chính quyền xã hội chủ nghĩa cho vào rao giảng những lý thuyết khác kiểu “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa” tại Đại Học thuộc quyền kiểm sóat của họ ?  Đã đành ông Thêm cũng như ông Kim Định chưa chứng minh được một cách khoa học lý thuyết của mình để thuyết phục được những người quen lối tư duy kiểu Tây Phương.  Nhưng điều hạn chế đó đâu có trách họ được.  Tôi muốn nói đến cái lý luận người ta gọi là khoa học theo “kiểu cũ đó” (nghĩa là mới chỉ ít chục năm về trước) cũng đã lỗi thời rồi.  Điều quan trọng là họ (GS Kim Định và GS Thêm) đã có can đảm đem những tư tưởng trên gieo rắc vào đầu óc những người trẻ tuổi yêu nước.  Chính thành phần này (tất nhiên phải có sẵn những chủng tử yêu nước trong đầu) 20 năm trước cũng như những thanh niên đang ngồi ghế giảng đường Đại Học Saigòn hôm nay sẽ làm nhiệm vụ tìm chứng minh khoa học cho những luận điểm kể trên”  (Tiếng Chim Gọi Đàn – dự án viết Lịch Sử Tư Tưởng Việt của Cung Đình Thanh, trang 52-53).

Cuối cùng để khỏi bị tiếng là mẹ hát con khen hay, tôi xin trưng lời của nhà phê bình có tiếng tăm ở hải ngọai ngày nay là Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích viết về Kim Định như sau: “Nếu ta không nhất thiết đồng ý với hết cả ý kiến của ông, ta cũng sẽ được làm thân với một trong những bộ óc triết lý lớn nhất nếu không của nhân lọai thì cũng của Việt Nam”

  1. GIAI ĐỌAN THÀNH LẬP NƯỚC VIỆT LINH THIÊNG (VIỆT LINH)

Từ năm 1989 Kim Định vào đời với việc kêu gọi thành lập phong trào Việt Linh mà nền tảng là các hội An Việt có mặt trên khắp nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu, rồi tổ chức Quốc Dân Đại Hội 1989 và mặt trận Văn Hóa phát huy tinh thần Hội Nghị Diên Hồng.  Kim Định thâm tín rằng muốn phục quốc phải khôi phục Đạo Việt.  Hãy nhìn khối người Do Thái tản mát khắp nơi như dân tộc Việt ngày nay, dù ở khắp nơi, người Do Thái vẫn đòan kết, muôn người như một là nhờ Thánh Kinh như quê hương bỏ túi của họ. Hãy nhìn các tôn giáo như Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo họ cùng có một nền tảng tinh thần để đòan kết như một.  Ngay cả cộng sản, tôi không nói đến đúng sai hay dùng công an, hộ khẩu, nhà tù, bạo lực cách mạng, đạo đức cách mạng, chuyên chính vô sản … để cai trị nhưng ít ra họ có thuyết duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác Lê để làm nền cho chủ nghĩa (mặc dù phi nhân) của họ.  Trớ trêu thay, tới nay vẫn còn có những người bênh vực, tin theo.

Kim Định không làm chính trị nhưng quan tâm đến chính sự cho nên ngài tổ chức Quốc Dân Đại Hội để đòan kết người Việt hải ngọai, hô hào trở về Việt Đạo làm nền tảng cho việc cứu quốc và dựng nước.  Linh Mục Phạm Quang Thúy viết “Tâm hồn thầy Kim Định vô cùng bao dung khoan hòa.  Thầy chỉ khích lệ và chân thành nâng đỡ, không hề có sự chỉ trích lên án (một số anh chị em An Việt chuyển qua thiền định và giúp nhau cộng tu phương tiện theo đường lối của Ni Sư Thanh Hải.  Nhóm đó số đông theo đạo Công Giáo). Nhiều Linh Mục Tu Sĩ  e ngại người tiến bộ quá đã ngần ngại không dám thân thiện với Thầy … Thầy ca tụng hết lời anh em Phật Giáo Hòa Hảo.  Thầy nắm bắt được tư tưởng chủ yếu của Đạo  là “Học Phật, Tu Nhân” và thuyết Tứ Ân: “1. Ân tổ tiên cha mẹ. 2. Ân đất nước. 3. Ân Tam bảo. 4. Ân đồng bào nhân lọai. (Xin đọc bài của Kim Định: “Vài suy nghĩ về Phật Giáo Hòa Hảo”, từ trang 699 – 706 trong “Phật Giáo Hòa Hảo Trong Giòng Lịch Sử Dân Tộc” của Nguyễn Long Thành Nam (Đuốc Từ Bi 1991).

Nữ Sĩ Huệ Thu cũng viết: “Điều rất ngộ Ngài là một Linh Mục Thiên Chúa nhưng rất được lòng giới tu hành Phật Giáo.  Việc ngài được mời giảng dạy tại Đại Học Vạn Hạnh, cho thấy ngài là người có tinh thần và thiện chí hòa đồng.  Chưa hết, sách của ngài còn được nhà xuất bản An Tiêm lãnh phần in ấn nữa.  Chính nhà xuất bản An Tiêm đã đăng báo Bách Khoa giới thiệu ngài rất hậu hĩ.”

Những khuôn mặt nổi bật của giai đọan đầu An Việt là Chị HUỆ THU, anh Trưởng Tràng TRẦN QUÍ MINH và anh Phó Tràng là NGUYỄN BỈNH DUY, Ở New Orleans là Trần Huy Vân (bút hiệu Vương Kỳ Sơn) Portland Trương Như Thường.  Florida Vũ Văn Phiên. Ở Houston là Nguyễn Duy Quang, Trần Việt Văn và bao nhiêu anh chị em khác.

Tôi không lạ gì phong trào An Việt và việc tìm về văn hóa Việt Nam giai đọan này phát triển rầm rộ vì từ năm 1975 đến giờ (1988) đồng bào ta ở tại Hoa Kỳ đã tạm ổn định, những hụt hẫng về văn hóa đã hiện rõ: chúng ta bị bứng ra khỏi bầu khí văn hóa tại quê nhà, những đau thương do cuộc đổi đời đã tạm lắng đọng, người Việt cảm thấy thiếu thốn một cái gì cần phải làm để duy trì gốc Việt đã bị trốc, phải dựng lại để có căn bản giáo dục con cái, các thế hệ sau.  Phong trào này lại được thúc đẩy bởi một giáo sư đại học có tầm cỡ, làm thay cho Bộ Giáo Dục hay Bộ Thanh Niên khi đất nước còn trong tay một Chính Phủ do dân bầu thực sự, nay mất nước rồi mọi người phải tự làm lấy, nhất là các người có một vốn liếng nào đó, tự cảm thấy mình “Quốc Gia Hưng Vong, thất phu hữu trách”.  Xin xem:

  1. Tin thư An Việt số 42 ngày 23.8.1989 thầy báo tin anh em An Việt – Việt Linh như sau (2 trang).
  2. Bản tin Việt Linh về Quốc Dân Đại Hội 7.10.1989
  3. Thông cáo chung 18.10.1989
  4. Thư mời “Đại Lễ Quốc Tổ Hùng Vương”

“ Phát Huy Tinh Thần Hội Nghị Diên Hồng”  (31.3.1990)

  1. Anh Trương Bổn Tài ra tập san “Sống Như Chơi” được 5 số: số 1 ngày

1.4.1990 số 5 ngày 16.2.1991.

Sau đó Kim Định đi Toronto Canada tham dự  Hội Nghị lần thứ 33 Triết Học Á Châu và Bắc Phi với bài tham luận “Tôn Giáo Và Ý Hệ Tại Việt Nam”. Rồi cũng trong thời đỉểm triệu tập Quốc Dân Đại Hội này, Kim Định đã viết 2 bài mạnh mẽ: “ Liên Đòan Công Giáo Việt Nam:  Nghĩa  Vụ Đối Với Dân Tộc” – “Tôn Giáo Với Việc Phục Việt” đăng trong “Chứng Nhân Công Giáo”, tháng 4 và tháng 5 năm 1989.  Hai bài khác là “Cứu Quốc” và “Việt Linh Và Các Tôn Giáo”. (Xin đọc thêm ở http://www.vietcatholic.net/kimdinh)

Nội dung Kim Định phân tích mới có Công Giáo chứ chưa có Việt Nam ; mới có một vai Thiên Chúa, chưa có vai Tổ Quốc.  Đối với các tôn giáo ngài kêu gọi cùng nhau đưa ra một mô thức đòan kết dân tộc gồm 2 điểm là học hỏi về văn hóa dân tộc hai là tích cực góp tiền của để làm điểm tụ vật chất thay cho quê mẹ mà tạm thời chúng ta phải xa cách.

Sau đó Luật Sư Phạm Nam Sách đã góp ý với Kim Định trong bài “Đặt Vấn Đề Ý Thức Trách Nhiệm Đối Với Quốc Gia Của Quốc Dân” đăng trong báo Ngày Nay Houston số 191 ngày 1.10.89 và đặc biệt Lê Trọng Văn đã viết nguyên một cuốn sách mang tên “Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị”:  Cao Thế Dung, Nguyễn Văn Chức, Nhị Lang, Trần Văn Dĩnh, Cao Văn Luận, Lương Kim Định. NXB  Mẹ Vịệt Nam 1992.  Sách dầy 456 trang.  Kim Định từ trang 335 đến trang 455 lên án Kim Định “phủ nhận lịch sử, sửa lại cổ sử Việt Nam, mưu đồ chạy tội bán nước của Giáo Hội Thiên Chúa Việt Nam từ mấy thế kỷ trước cho tới nay” (dòng 1, trang 336). Riêng về “hai tổ chức An Viêt và Việt Linh đã rập khuôn theo phương thức của cơ quan tình báo P2 của Tòa Thánh Vatican, mà trước đây Ngô Đình Nhu đã mô phỏng để tổ chức đảng Cần Lao Thiên Chúa Giáo” (dòng 3 trang 428).  Tôi xin miễn viết thêm vì ai đã đọc Kim Định đều nhận thấy trên 30 sách đã viết về dân tộc không hề có chút chi là tôn giáo chứ đừng nói đến Công giáo.  Ngay danh xưng, Kim Định luôn mong muốn người ta gọi mình là Giáo Sư hay Triết Gia chứ không muốn được gọi là Linh Mục.  Còn các sinh viên, môn sinh của ngài luôn dùng từ Thầy Kim Định rất gần gũi, dản dị và thân thương !

Hồi Bác Sĩ Trần Kim Tuyến còn sống ở Cambridge (Bác Sĩ Tuyến là trưởng cơ quan mật vụ (CIA Việt Nam) hồi đó gọi là Phòng Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng Thống) tôi thường đến chơi với Bác Sĩ Tuyến, có lần tôi hỏi ông, Bác Sĩ có biết Lê Trọng Văn là ai không.  Ông nói: Văn là một tên cộng sản nằm vùng, bị ông Ngô Đình Nhu truy nã nên đã chạy sang Lào hay Thái trốn tránh.

Giai đọan phục hồi văn hóa Việt qua các tổ chức An Việt và qua việc Kim Định đi bốn bể năm châu thúc đẩy các cộng đồng tị nạn Việt Nam học tập , giữ gìn, phát huy Việt Đạo. Giáo Sư Trần Văn Đòan đã không ngần ngại khẳng định tại Viện Triết Học, Trung Tâm Khoa Học Xã Hội Hà Nội ngày 18.1.1997 rằng Kim Định vượt xa Trần Đức Thảo trong lãnh vực suy tư và trong tinh thần ái quốc cũng như sự nhiệt tâm của Kẻ Sĩ”

Từ ngày 25 tháng 7 đến Chủ Nhật 29 tháng 7 năm 1990 tôi tổ chức Đại Hội An Việt Tòan Cầu và Trại Hè Thanh Niên Âu Châu tại Đại Học WARWICK ở Coventry Birmingham dưới sự chủ trì của Triết Gia Kim Định, Bác Sĩ Trần Đại Sỹ, (Pháp) và Giáo Sư Phạm Việt Tuyền (Strasbourg) cùng với 150 các em học sinh và sinh viên Việt Nam. Phái đòan Mỹ, ngòai Thầy Kim Định còn có Gs Như Thường Trương Bổn Tài và một số anh chị em sinh viên khác.  Trong 5 ngày ở nội trú và hội thảo các em học sinh và sinh viên tại Anh đã được thầy Kim Định, Bác Sĩ Trần Đại Sỹ và Giáo Sư Phạm Việt Tuyền hướng dẫn về văn hóa Việt Nam, anh Trương Như Thường và 2 cô Sinh Viên từ Mỹ hướng dẫn sinh họat, lửa trại, thăm các thắng cảnh địa phương, sinh họat văn nghệ.  Thật là một tuần lễ đáng ghi nhớ mãi trong đời.

Từ ngày 13 đến 19 tháng 7 năm 1991, Anh Lê Hùng và tôi tổ chức Đại Hội An Việt Tòan Cầu và trại hè Thanh Niên Âu Châu tại Vương Quốc Bỉ được sự trợ giúp của Bộ Văn Hóa Pháp Ngữ tại Bỉ.  Đại Hội được tổ chức tại Trung Tâm Văn Hóa Marcel Hicter.  Tôi đem từ Anh sang một xe đò lớn các học sinh Sinh Viên và nhờ anh Lê Hùng in áo thung có huy hiệu An Việt.  Từ Mỹ qua có Thượng Tọa Thích Giác Lượng, Phó Chủ Tịch An Việt anh Như Thường Trương Bổn Tài và một số sinh viên khác từ Mỹ,  Bên Pháp có Bác Sĩ Trần Đại Sỹ, Kỹ Sư Phạm Anh Dũng, một số từ Hòa Lan, Đức.  Hướng dẫn hội thảo và sinh họat là Bác Sĩ Trần Đại Sỹ, Trương Bổn Tài.  Văn Nghệ Thể Thao là Tôn Trung Cang Anh Quốc.

Thầy Kim Định không sang được dịp này.  Tôi không biếr tại sao, không ai nói.  Sau này mới được tin thầy bị bệnh.  Nhiều nguồn tin khác nhau về sự đột quị của Thầy.  Thầy viết cho tôi 2 lần báo hung tín này, tin càng ngày càng xấu và những tin tức trái ngược nhau.

Thư tôi nhận được lần đầu còn đọc được (không đề ngày, có nhiều chữ khó đọc, xin các bạn xem bản chính lá thư và hiểu giúp).  Vài thư sau càng khó đọc và đứt quãng một thời gian tôi không nhận được gì nữa, cũng không biết thầy ở đâu. Tôi đọc bức thư đầu tiên như sau:

“Thành thân yêu,

Đang nằm khóc cho vận nước thì được thư Thành lòng mừng khấp khởi may nhờ có Thành mà An Việt còn ghi lại được một kỷ niệm to lớn ở một nước mà cho tới nay ai cũng thấy là khó khăn vậy mà An Việt đã lập được cơ sở có nền tảng.

(Ghi chú thêm về điểm này:  An Việt Anh Quốc có 3 dự án: (1) An Viet Foundation, lo về Văn Hóa xã Hội, có một trụ sở lớn ở London (2) – An Viet Housing Association, một hội gia cư đầu tiên được chính phủ Anh tài trợ, trong 3 năm đầu đã xây được gần 200 đơn vị gia cư cho thuê nhà giá rẻ theo tiêu chuẩn của Chính Phủ Anh (3) – Viện Nghiên Cứu Việt Nho và Đông Nam Á với một thư viện đang xây dựng với khỏang 5-7 ngàn sách chuyên biệt về thời tiền sử Tàu Việt, Đông Nam Á với mong muốn trở thành một Ban, Ngành của Đại Học, giúp các sinh viên hậu Đai Học viết luận án về Việt Nam, và Đông Nam Á).  Thư Kim Định tiếp tục viết:

Chương trình tôi làm to lớn lắm không biết trời có cho sống để họat động không. Nó sẽ bao gồm cả tòan cầu.  Mỗi năm mời đồng bào về nước thăm họach định chương trình tiến mãi ở Đại Học Thái Bình Minh Triết.

Bệnh tôi bây giờ nó đứng đó.  Nhờ ngọai môn chữa thần kinh mà bệnh tê liệt không lan rộng. Tôi đã….. gần nửa năm nay đi chống gậy. ……… thì sẽ khỏi và cầm cự được ít lâu cho đến hết tháng tám âm lịch mới khỏi.  Nếu thực sự …. Thì … 1 tập sách nhỏ hướng dẫn người đọc Việt Nho.  … tài liệu mà Thành cho biết … gián điệp Pháp thì do tên Việt Minh (tên gì quên rồi biên lại cho nhé).  Bây giờ ngòai Bắc cho tiền tụi đóm điếu in thành sách “Lột Mặt Nạ”  nhưng chưa phổ biến rộng mà đả Kim Định… Nhưng xem đó …..chỉ tại một số cán bộ vào nam gặp rồi cố lùng mua cho đủ bộ.  Về đọc rồi phản mà tại sao Đảng ta không sản xuất được một người văn hóa lớn như thế này nên ……..hạ Kim Định đến đất đen.

Vẫn hy vọng trời cho khỏe để viết tập ….. Viết xong thì gửi cho Thành.  Đã có chữ quốc ngữ…..

Viết nhiều sợ không đọc được.  Chữ bây giờ như vậy đấy.

Thành cứ kiên tâm giữ vững An Việt London sẽ kể là trung tâm An Việt Âu Châu.  Mai ngày nó sẽ tồn tại mãi với non sông đất nước nhé.”

Tới đầu tháng 5 tôi được tin thầy về dưỡng bệnh tại Dòng Đồng Công ở Carthage, Missouri.  Tôi đã điện thọai 2 lần để hỏi thăm thầy.  Thầy nghẹn ngào không nói được gì.  Sau đó nhà Dòng Đồng Công không cho điện thọai liên lạc từ bên ngòai vào nữa.  Tôi chỉ biết tưởng nhớ và cầu nguyện cho ngài.

Tới đầu năm 1995, tôi nhận được thư của anh Vương Kỳ Sơn (15.3.1995) đính kèm dự án tái bản bộ Triết Lý An Vi và Việt Nho trong thư ngày 1 tháng 2 năm 1995 anh gửi cho Kim Định (xin xem thư đính kèm) và một thư sọan sẵn đứng tên tôi bằng Anh Ngữ đề An Việt Foundation in England, ngày 15.7.1995 yêu cầu tôi gửi cho thầy Kim Định để thầy ký tên nhượng quyền tái bản tòan bộ sách Kim Định cho Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam của anh. Anh Sơn cũng gửi tôi thư của Thầy Kim Định đề ngày 15.3.1996, anh nói không đọc được.  Tôi đọc được ít chữ thế này:

“ ….. Sơn người mượn quyển Chữ Thời và … Cửa Khổng.  Muốn làm như dự án thì anh phải là  người để tôi nói cho biết tại sao anh đưa ra dự án sai quấy .  Nếu anh làm như thế thì cánh Houston họ sẽ đưa ra Tòa bắt bồi thường”

(Tôi xin cắt đọan sau của thư này).

Qua thủ bút cuối đời này chúng ta biết rõ rằng bản quyền pháp lý các tác phẩm của Kim Định là do An Việt Houston nắm giữ.  Tôi cũng nghĩ rằng anh Nguyễn Duy Quang bảo quản tất cả các văn bản pháp lý này với thầy Kim Định.

Nhận được những tài liệu trên của anh Vương Kỳ Sơn, tôi không dám gửi cho Thầy Kim Định vì biết rằng thầy sẽ không chấp thuận.  Đặc biệt sửa lại sách của Thầy theo lối hàn lâm như làm footnotes và làm Index.  Tôi biết thầy rất ghét lối hàn lâm vì sách của thầy là những suy tư triết lý, diễn tả VIỆT ĐẠO phải như dòng suối tâm linh chảy ra, của tâm hồn chứ không phải của lý trí phân tích lý luận suông, tầm chương trích cú… Thứ hai, về tác quyền, anh đề nghị tác giả được 100 sách mỗi khi một quyển được tái bản.  Trời ơi,  Kim Định có bao giờ để ý đến tiền bạc đâu.  Ngay cách ăn mặc của cụ cũng nhất bộ áo dài.  Mấy ngày ở  với tôi ở Anh, tôi thấy cái áo cụ mặc rất cũ kĩ, tôi hỏi cụ, cụ bảo đã mặc từ hồi ở Pháp kia đấy, mấy chục năm mà vẫn chưa rách.  Tôi hỏi về nấu ăn, cụ bảo cháu nó cứ kho cho một nồi cá, ăn cả tuần với rau trong tủ lạnh, nước mắm sẵn đó là tươm tất lắm rồi.  Cơm có nồi điện nấu rất dễ, ăn được mấy ngày.  Bên Mỹ ai cũng làm quần quật ngày đêm, chẳng ai có thì giờ để lo nấu nướng.  Mình cũng phải tự túc như vậy.

Viết sách thì cụ cứ nằm ở giường lúc nào tỉnh thì đọc hay viết.  Lúc buồn ngủ thì thiếp đi.  Tỉnh dậy lại viết.  Giấy cụ dùng là tờ A4 cắt làm tư để viết, để sọan bài đi dạy.  Sau khi giảng cho Sinh Viên thì cứ để vậy đưa cho tôi chuyển cho ban đại diện sinh viên đánh máy bán bài cho sinh viên hay đưa cho nhà in Ra Khơi sắp chữ in sách.  Ở Đại Học Văn Khoa hồi đó, anh em sinh viên thuờng gọi đùa anh Đỗ Ngọc Yến (khi sang Mỹ làm Chủ Nhiệm báo Người Việt) và anh Bùi Hồng Sĩ là “lái cua” (in bài của các giáo sư bán cho sinh viên lấy tiền điều hành Tổng Hội Sinh Viên).

Năm vừa qua, tôi bỏ tiền nhờ bên Việt Nam đánh máy lại tòan bộ sách Kim Định với hy vọng được bỏ lên trang mạng An Việt cho mọi người đọc hoặc sau này in KIM ĐỊNH TÒAN TẬP.  Người đánh máy nói anh Vũ Linh ở San Jose Hoa Kỳ muốn xin một bản.  Tôi trả lời, hãy đợi để đọc lại, sửa chữa lỗi đánh máy và đưa hình, chữ Nho vào cho hòan chỉnh rồi phổ biến cho năm châu bốn biển cùng đọc chứ giữ độc quyền phổ biến làm gì.  Ít lâu sau thấy những sách tôi nhờ đánh máy, đã xuất hiện trên trang DUNGLAC.NET.  Anh Nguyễn Duy Quang hồi còn sống rất bực, nói với tôi rằng, Kim Định đã nhượng bản quyền cho An Việt Houston in và phát hành các sách Kim Định.  Các sách đã in cũng đã đăng ký với Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ, Dũng Lạc không được phỗng tay trên như vậy.  Anh Quang sẽ kiện ra Tòa.  Tôi năn nỉ xin anh Quang bỏ qua vì mục tiêu của An Việt là phổ biến Tư Tưởng Kim Định.  Dũng Lạc phổ biến trước cũng không sao.

Tôi nhớ lại sau ngày 30.4.1975 có dịp về miền quê xa xôi tại miền Nam, có lần đi thăm bạn bè, người quen vùng kinh tế mới, những lần đi tìm đường vượt biên ở Vũng Tàu Bà Rịa, Phan Thiết, Rạch Giá, Cà Mau … Lúc uống rượu uống trà, lúc nói về văn hóa, có người tiết lộ cho tôi biết, họ đã cất giữ kỹ lưỡng một số sách của Kim Định coi như gia bảo của mình.  Có người đi mượn của bạn về chép tay để nghiền ngẫm.  Tôi thật sửng sốt vì tư tưởng Kim Định đã đến cả với đa số thầm lặng, đến cả những nơi vùng sâu vùng xa.

Sau khi đến được Anh Quốc năm 1979, vợ con tôi còn ở lại Việt Nam, tôi đã nói gia đình gửi tòan bộ sách Kim Định cho tôi, lúc đó khỏang năm 1982.  May mắn thay, khi kiểm duyệt, mấy nhân viên bưu điện đã “xin” mấy cuốn đề tài dễ hiểu, nhưng tòan bộ sách Kim Định họ cho đi.  Ít lâu sau tôi nhận được đầy đủ.  Thật là một món quà vô giá cho tôi.

  1. LỄ AN TÁNG THẦY KIM ĐỊNH
    Thầy Kim Định mất ngày 25.3.1997 tại nhà dòng Đồng Công.  Anh Nguyễn Duy Quang và Vũ Linh báo tin tôi biết và sau đó gửi cho tôi một số tấm hình đám tang.  Tôi buồn rầu tiếc nuối một nhà văn hóa lớn đã ra đi, một người thầy đã để cả đời cho dân tộc.  Nhớ lại khi đọc Nguyễn Hiến Lê, tôi thấy ông không bao giờ ca tụng ai, thế mà ông đã viết ở đâu đó rằng, Kim Định là người yêu nước nhiệt tình nhất.

Vĩnh biệt xác thân nhỏ bé của người thầy yêu quí.  Nguyện linh hồn thầy phù trợ An Việt, phù trợ Việt Đạo cho ngày càng xiển dương khắp mọi miền đất nước để muôn dân đạt tới Thái Hòa.

Tôi cũng được nghe nói khi Thầy Kim Định sắp lìa trần, thầy có gửi Giáo Sư Linh Mục Phan Đình Cho và Giáo Sư Trần Văn Đòan 5 ngàn Mỹ kim để tóm lược bộ triết lý An Vi và dịch ra Anh Ngữ.  Tôi đã nói chuyện điện thọai với hai vị Giáo Sư này để hỏi về việc ấy nhưng được trả lời chưa làm được.  Nhân dịp cha Phan Đình Cho đi Bỉ, tôi bận công việc thành phố vì mới đắc cử Nghị Viên London năm 2002 không thể qua Bỉ gặp Giáo Sư Linh Mục PĐ Cho được.  Tôi đã nhờ anh Lê Hùng gặp ngài, nhưng cũng không có tin gì mới.  Trong thơ mời Đại Hội An Việt Tòan Cầu ngày 29.5.2003 anh Nguyễn Duy Quang cũng nhắc đến việc này trong thư mời.  (Xin xem tài liệu số 20 đính kèm).

Khi đã ủy thác việc này cho 2 vị Tiến Sĩ uyên bác thông thạo ngôn ngữ và tư tưởng Đông Tây vào bậc nhất, thầy hy vọng tư tưởng của thầy sẽ tới được thế hệ thứ hai để tiếp tục khai phá, vun trồng Gốc Việt và Đạo Việt mà thầy đã để cả đời gây dựng.  Mong lắm thay.

  1. KẾT LUẬN

Thầy Kim Định đã ra đi đúng 10 năm.  An Việt cùng với thời gian yếu dần đi trong số đó, mất mát lớn lao nhất là mất hai chiến sĩ nhiệt tình:

–          Anh Nguyễn Duy Quang (HoustonTexas)

–          Anh Trần Việt Văn          (HoustonTexas)

Một số anh em khác về già, đi vào An Vi Thiền Định, không họat động gì nữa.  Năm 2003 anh em bốn bể năm châu đã họp lại tại nhà anh Trần Quí Minh ở Florida bầu anh Minh làm Tộc Trưởng. Gia đình An Việt Anh Quốc anh Vũ Khánh Thành làm trưởng gia đình thường trực. Đã có Hiến Chưong Văn Lễ.  Dự định năm 2006 họp Đại Hội bầu văn phòng thường trực mới nhưng năm 2006 lại có Đại Hội văn hóa tại Úc, nhiều anh chị em tham dự Đại Hội này nên không tổ chức được.  Trong 10 năm qua An Việt Houston đã tái bản nhiều sách của Kim Định, ra mắt một số họat động của  anh chị em An Việt, ra báo Xuân, đặc san các ngày giỗ Thầy…. Đáng kể nhất là cuốn YÊU MẾN AN VI của chị Đông Lan.  Nội dung đúc kết tinh hoa 32 tác phẩm An Vi của Kim Định về Chủ Đạo Việt, xuất bản năm 2004 và chị đã thực hiện chương trình “Tìm hiểu triết Việt” trên đài Little Saigon tại Houston để phổ biến An Vi và Việt Nho.  Sau đó An Việt Houston tiếp tục chương trình phát thanh với anh Nguyễn Kim Luân.

Từ tháng 3 – 2006 đến hiện tại Chị Đông Lan lại thực hiện chương trình “Yêu mến An Vi” trên đài Tiếng Nước Tôi tại Houston và phát thanh lại tại khắp nơi trên thế giới với sự cộng tác của anh Lê Việt Thường (Lê Xuân Lộc) Úc Châu.

Một trang Web của An Việt Tòan Cầu đã được sửa lại và ra mắt ngày 25.3.2007 hôm nay, đánh dấu 10 năm ngày giỗ Kim Định.  Trang Web này chuyên viết hoặc sưu tầm các bài chuyên về Nguồn Gốc Dân Tộc và Triết Lý An Vi hay Triết Việt, Đạo Việt nói chung.  Trong thời gian thử nghiệm từ tháng 1/07 đến đầu tháng 3 (tròn ba tháng) số người vào trang web đã lên đến 12 ngàn người.  Điều này chứng tỏ nhu cầu tìm về Cội Nguồn Dân Tộc và Minh Triết Việt có cơ sở vững chắc được đón nhận.

Một Viện Nghiên Cứu về Việt Nho và Đông Nam Á cũng đang hình thành tại Anh Quốc.  với hy vọng trở thành một ban ngành của Đại Học, giúp các sinh viên hậu đại học viết luận văn Cao Học hay Tiến Sĩ về Việt Nam.  Cái khó khăn của Viện hiện nay là có thư mục sách đúng đường để tìm mua.  Thư viện đã mua được khỏang 2000 cuốn (tiếng Anh Pháp.  Một số ít tiếng Việt, tiếng Hoa, tiếng Đức).  Mong các bậc thức giả giúp đỡ giới thiệu sách cần mua.

Chúng ta vui mừng được thêm một số thân hữu yêu mến Triết Lý An Vi và Việt Nho từ trong nước lẫn hải ngọai cùng nhau đưa Đạo Việt và Nguồn Gốc Dân Việt chiếu rạng năm châu bốn biển,

Nhiều công trình lớn khác đặc biệt của Hùng Việt và Việt Nhân đã san định lại Tư Tưởng Kim Định thành những cuốn sách lớn như:

–          Đi Tìm Tư Tưởng Tiền Nhân

–          Việt Nho

–          Triết Lý Thái Hòa của Việt Tộc

Bộ Quốc Văn Giáo Khoa cũng đang được quí Anh Trần Quí Minh, chị Đông Lan và một vài anh chị em khác đang cố công hình thành.

Tại Anh Quốc, “An Việt, nguyệt san văn hóa, thông tin, nghị luận, cơ quan truyền bá triết lý An Vi”  báo ra đời đã được 11 năm, số đầu tiên tháng 10 năm 1994, tới nay (tháng 3 – 2007) đã ra được 139 số.  Mỗi số cố định 36 trang A4. Báo có 2 phần:  phần một là các bài về Việt Nho và An Vi, phần 2 là thông tin nghị luận, lấy lại một phần nguyệt san Thông Luận tại Pháp và các bài thời sự chính trị xã hội trên các trang mạng Web.  Tôi không dám gọi là báo vì thực ra phần thông tin nghị luận là cắt dán để đáp ứng nhu cầu ở Anh Quốc không có báo chuyên ngành về văn hóa và thời sự chính trị, xã hội mà chỉ có mấy tờ của Công Giáo (tên là Mục Vụ, nay đổi là Sống – nguyệt san), tờ của Phật Giáo (Hải Triều Âm), Thế Kỷ Mới, Hồn Việt, ra 3 tháng một lần.  Mới đây có thêm tờ Tri Thức Việt, nguyệt san, in rất đẹp tại Trung Quốc, phát hành tại London và Âu Châu, tin tức phổ thông dễ đọc cho quần chúng.

Cuối cùng từ 3 năm qua, anh em An Việt khắp nơi và Nhóm An Vi, nhóm Việt Học San Jose đã cộng tác với các hội đòan văn hóa, tập san Tư Tưởng tại Úc của Cố Luật Sư Cung Đình Thanh, tổ chức Đại Hội Văn Hóa.  Năm 2004 và 2005  tổ chức tại San Jose Hoa Kỳ.  Năm 2006 tổ chức tại Úc.  Năm 2007 dự trù tại NamCali.  Đó là những sáng kiến rất hay, những việc làm cần thiết.

Một việc rất quan trọng mà bất cứ ai trong chúng tôi cũng quan tâm là làm sao cô đọng học thuyết Kim Định lại được, đưa những dẫn chứng khoa học mới khám phá ra mà thời Kim Định chưa biết sau đó dịch ra anh Anh ngữ.  Đó là phần Việt Nho.  Phần triết lý An Vi chúng ta đã có cuốn sách của Đông Lan để truyền lại di sản tình thần cho các thế hệ sau tiếp tục con đường của Kim Định đã vạch ra rồi mỗi ngày mỗi bổ sung thêm những khám phá mới của khoa học.  Làm thế nào có giới trẻ kế nghiệp … Rất tiếc chúng tôi chưa tìm ra câu trả lời !!!

Tôi cũng báo tin thêm là Đại Học Oxford với Tiến Sĩ Stephen Openheimer và Đại Học Leeds với Giáo Sư Tiến Sĩ Martin Richards (Trưởng Khoa Biological Sciences, Giáo Sư Michael Hitchcock, Khoa Trưởng Khoa Văn Hóa và Du Lịch London Metropolitan University, người đã sống ở Indo, Malay … để nghiên cứu về người Đông Nam Á hàng chục năm và cựu Tiến Sĩ Ian Glovers Đại Học UCL (đã nghỉ hưu. )Các vị này đang hợp lực để nghiên cứu tòan bộ về nguồn gốc các dân tộc trên thế giới.  Những công trình đó sẽ được ra mắt không lâu, sẽ làm rõ thêm tư tưởng Kim Định.  Bốn Giáo Sư nêu trên đang cùng giúp An Viêt Anh Quốc trong việc hình thành Viện Nghiên Cứu Việt Nho và Đông Nam Á tại London và tổ chức Hội Nghị Thế Giới về Nguồn Gốc Bách Việt và Đông Nam Á vào năm 2008 .

Toi xin chấm dứt phần tổng kết về cuộc đời thầy Kim Định và An Việt nhân dịp lễ giỗ lần thứ 10 thầy Kim Định ở đây.  Xin chân thành cảm ơn tất cả quí vị xa gần.

VŨ KHÁNH THÀNH

An Việt Vương Quốc Anh

anvietuk@aol.com

Nguồn: http://minhtrietviet.net/hanh-trinh-kim-dinh-va-an-viet/

 

www.vietnamvanhien.org

 

|
Lương Kim Định (1914-1997)

TƯỞNG NIỆM
TRIẾT-SỬ GIA LƯƠNG KIM ĐỊNH (1914-1997)
Ngày 28 Tháng 2 Việt Lịch

 

Nam Phong tổng hợp

Mục Lục

Tiểu Sử Triết – Sử Gia Lương Kim Định Trang 1
Kim Định Cuộc Đời Và Tư Tưởng  –  Hồ Phú Hùng 7
Cuộc Luận Chiến … Tư Tưởng Kim Đinh –  Lê Minh Khai 27
 Sử Gia Lớn Nhất (Không Được Biết…) Của Việt Nam –  Lê Minh Khai 31
GS Kim Định Người Khởi Nguồn Học Thuyết  Triết Việt – Huy Văn 34
Người Cả Đời Tìm Triết Lý Trên Trống Đồng Đông Sơn – Dương A.Phát 36
Những Sai Lầm Ngộ Nhận Về Cố Triết Gia Kim Định – Lê Việt Thường 39
Tưởng Nhớ Triết Gia Kim Định Nhân Kỷ Niệm 100 Năm Ngày Sinh 43
Lương Kim Định Một Sĩ Phu Lớn Của Thế Kỷ XX – Nguyễn Khắc Mai 46
Hành Trình Kim Định và An Việt – Vũ Khánh Thành 50

 

 
Triết-Sử gia LƯƠNG KIM ĐỊNH sinh ngày 15.6.1914 tại Trung Thành, Nam Định. Sau khi tốt nghiệp triết học tại Giáo Hoàng Chủng Viện Sait Albert Le Grand, ông dạy triết tại Đại Chủng Viện Bùi Chu (1943-1946). Năm 1947, ngài sang Pháp 10 năm nghiên cứu về triết học tại Institut des Hautes Etudes Chinoise để thâu thập tài liệu xây đắp nền triết lý Việt Nam. Trở về nước năm 1957, ngài dạy triết Đông tại Học Viện Lê Bảo Tịnh, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh và Đại Học Đà Lạt.

Từ năm 1960, triết gia bắt đầu cho ra mắt một loạt những cuốn sách về triết Việt, mở đầu là cuốn Cửa Khổng, Triết Lý Giáo Dục, Nhân Bản, Căn Bản Triết Lý Trong Văn Hóa Việt Nam . . . Học giả Linh Mục Vũ Đình Trác viết về công trình của ngài như sau:

“Nhờ công phu mở đường trở về triết Đông của Giáo Sư Bửu Dưỡng và Nguyễn Văn Thích cũng như tâm huyết của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, chương trình triết học Đông Phương được khai giảng tại Đại Học Văn Khoa Sàigòn năm 1958. Sẵn đường trở về Đông Phương, triết gia Kim Định tiện đường, đơn thương độc mã, ông lên một nước táo bạo, mở đường đi vào Triết Lâm Việt Nam. Trong suốt 16 năm trời tại giảng đường Đại Học Văn Khoa Sàigòn, giáo sư đã ảnh hưởng sâu rộng cho cả một thế hệ thanh niên và sinh viên. Mặc dầu bao chống đối, ông đã im lặng xây dựng một hệ thống Việt Nho khá trung thực và hấp dẫn. Không ai có thể chối cãi công phu xây dựng và ảnh hưởng sâu rộng của ông trong lãnh vực văn hóa dân tộc. Từ Đại Học Văn Khoa Sàigòn, ông mở rộng mặt trận tới các Đại Học khác: Đại học Đà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Đức, Thành Nhân và An Giang. Chính trong giai đoạn này ông đã sáng lập chủ thuyết AI VI và ViỆT NHO”.

Nhận định về địa vị của triết gia Kim Định trên trường Việt Nho, Việt Triết – học giả Linh Mục Vũ Đình Trác còn viết như sau:

“Nhờ công khai thác và biên khảo, sáng tác của giáo sư, những bậc thức giả khắp nơi đã suy tôn ông là Triết Gia Việt Nam. Aûnh hưởng Việt Triết và Việt Nho của ông đã gây ý thức cho người Việt khắp nơi nhìn lại thực tại văn hóa của mình. Các đồ đệ của ông đã đáp ứng nguyện vọng của Thầy để khai thác và phổ biến Việt Lý của Thầy qua tổ chức AN VIỆT. Các nhóm An Việt được thành lập khắp nơi: San Jose, Orange, Houston, Louisiana, Washington DC, Philadelphia, Seattle, và tại Canada, Uùc Châu, Anh, Pháp, Đức v.v … An Vi đã như một luồng gió dân tộc bùng lên khắp nơi có người Việt định cư. Các nhóm này coi Triết Gia Kim Định như bậc Đại Sư, mà họ tôn làm Tổ: TỔ SƯ AN VI, TỘC PHỤ AN VIỆT. Aûnh hưởng của Triết Gia không những thế mà còn lan rộng tới các học giả, triết gia ngoại quốc: Âu Mỹ và khối Viễn Đông”.

Năm 1987 hội nghị Quốc Tế về “Khổng Học Với Thế Giới Ngày Nay” (International Symposium on Confucianism and the Modern World) tổ chức tại Đài Bắc, Đài Loan, qui tụ 400 học giả khắp thế giới. Triết gia Kim Định cùng với Lm Vũ Đình Trác đã thuyết trình đề tài “Đạo Trường Chung Cho Đông Nam Á” (A Tao-Field for South East Asia). Bài tham luận do Giáo Sư Trần Văn Đoàn, Giáo Sư Đại Học Quốc Gia Đài Loan trình bày (Professor of Philosophy at Taiwain National University). Đề tài này đã gây tiếng vang rất lớn trong giới Nho Lâm Á Châu.
Sau đó ngài còn tham dự Hội Nghị Triết Học tại Brighton Anh Quốc năm 1988 (The World Congress of Philosophy) – Hội Nghị Triết Học Á Châu và Bắc Phi lần thứ 33 tại Toronto Canada năm 1990 (The XXXIII International Conference on Asian and North African Studies). Ngài nói với các đồ đệ; “Thầy phải đi để nói cho thế giới biết con người, tư duy và đạo sống cao đẹp của dân tộc Việt Nam”.

Nguyễn Ngọc Bích, giáo sư Đại Học Georgetown, Washington DC, viết về triết gia Kim Định trong báo Ngày Nay, số 121:

“Trong nỗ lực đi tìm một con đường Việt Tộc, Nhân Chủ, Tự Do, thì chúng ta phải kể ở hàng đầu công trình đồ sộ của triết gia Kim Định. Ở đâu ông cũng thế, không phải sang Mỹ ông mới tìm “về nguồn”. Việc làm của ông trong một tình cảnh mất mát vô biên, chẳng qua cũng chỉ là nối tiếp công việc của ông đã bắt đầu khi còn ở trong nước, khi còn ở Miền Nam tự do. Từ năm 1962 tới nay, ông đã hoàn tất được 23 cuốn triết học, tương đương với 7000 trang, một mảng tư tưởng mà không dễ mấy triết gia có thể so sánh được. Sự độc đáo ở nơi ông cũng đã là một truyện quá rõ – dầu ta có đồng ý với ông hay không, thì ta cũng không thể phủ nhận được tính cách độc đáo của tư tưởng ông. Ngày nay tham vọng cuối cùng của triết gia Kim Định là sẽ dựng xong một bộ Kinh (hiểu theo nghĩa Bible) cho dân tộc ta. Để thực hiện tham vọng này, ông đã cho in hoặc đang in năm cuốn thuộc bộ “Ngũ Kinh Khải Triết”, đó là: Hùng Việt Sử Ca, Kinh Hùng Khải Triết, Pho Tượng Đẹp Nhất Của Việt Tộc, Sứ Điệp Trống Đồng, Văn Lang Vũ Bộ (số lớn do nhà in H.T KELTON xuất bản). Nếu ai hỏi tôi rằng có nên đọc hay không, thì tôi xin thưa ngay: dứt khoát là có. Tại sao ? – Tại vì nếu ta không nhất thiết đồng ý với hết cả ý kiến của ông, ta cũng sẽ được làm thân với một trong những bộ óc triết lý lớn nhất nếu không của nhân loại thì cũng của Việt Nam. Tôi nói điều này trong sự cân nhắc, cũng không khác gì câu tôi sẽ trả lời cho người nào hỏi: Có nên đọc Platon hay Aristote không ? Đã nhất thiết gì ta đồng ý với Platon trong tác phẩm La République, nhưng ai không đọc tác phẩm đó, thì chắc chắn mất đi một mảng hiểu biết rộng lớn về triết học Tây Phương. Cũng như vậy, ai không đọc Kim Định cũng không sao, ông sẽ từ tốn mà “an vi”, để chờ một ngày kia người nọ sẽ tỉnh mộng mà trông thấy hết cả cái mất mát của mình”.

Triết gia Kim Định từ trần ngày 25 tháng 3 năm 1997, nhầm ngày 28 thàng năm Đinh Dậu  tại dòng Đồng Công hải ngoại, Carthage, Missouri, Hoa Kỳ, hưởng thọ 83 tuổi. Ngài để lại cho đời bộ triết Việt Nho và An Vi, gồm 42 cuốn để giúp cho dân tộc có Chủ Đạo để tránh cảnh vô hướng vô hồn và giúp cho dân tộc có một Minh Triết để sống an vui hạnh phúc giữa Trời và Đất.

Triết Gia Lương Kim Định (1914-1997)

( ảnh minhtrietviet.net)

 

 

 

Danh Sách Tác Phẩm của Kim Định

(bấm vào tựa sách đọc tiếp)

Cửu Khâu
(9 đồi nhỏ – Những vấn đề thiết yếu)
1 – 1 .Nguyên Nho (Cửa Khổng)
2 – 2. Triết Lý Giáo Dục
3 – 3. Nhân Chủ
4 – 4. Hồn Nước Với Lễ Gia Tiên
5 – 5. Chữ Thời
6 – 6  Vũ Trụ Nhân Linh
7 -7. Lạc Thư Minh Triết
8 – 7. Định Hướng Văn Học
9 – 8. Loa Thành Đồ Thuyết
10- 9. Tâm Tư
278 trang
190 trang
306 trang
321 trang
700 trang
230 trang
149 trang
237 trang
187 trang
348 trang
Ra khơi
Ca Dao
Thanh Niên QG
Nam Cung USA
Thanh Bình
Khai Trí
Nguồn Sáng
Ra Khơi
Thanh Bình
Khai Trí
1965
1975
USA
1979
1967
1969
1971
1969
1973
1970
 

 

 

Bát Sách
(8 quẻ – nền tảng cho nhiều sách sau này)

11 – 1.Việt Lý Tố Nguyên
12 – 2. Dịch Kinh Linh Thể
13 – 3. Triết Lý Cái Đình
14 – 4. Vấn đề Nguồn Gốc Văn Hóa VN
15 – 5. Vấn Đề Quốc Học
16 – 6. Hiến Chương Giáo Dục
17 – 7. Cơ cấu Việt Nho
18 – 8. Tinh Hoa Ngũ Điển
430 trang
170 trang
188 trang
139 trang
157 trang
155 trang
285 trang
192 trang
An Tiêm
Ra Khơi
Nguồn Sáng
Nguồn Sáng
Nguồn Sáng
An Tiêm
Nguồn Sáng
Nguồn Sáng
1970
1970
1971
1973
1973
1970
1972
1973
 

Ngũ Luận
(Kinh điển – Minh Triết Việt)

19 – 1. Hùng Việt Sử Ca
20 – 2. Kinh Hùng Khải Triết
21 – 3. Pho Tượng Đẹp Nhất Của Việt Tộc
22 – 4. Sứ Điệp Trống Đồng
23 – 5. Văn Lang Vũ Bộ
272 trang
241 trang
226 trang
431 trang
251 trang
Thằng Mõ San Jose
Thanh Niên QG
HT Kelton
Thanh Niên QG USA
H.T Kelton USA
1984
USA
USA
1984
1982
 

Tam Phần
(Chơn dấu bảo vật dân tộc)

24 – 1 .Đạo Trường Chung Cho Đông Á
25 – 2. Phong Thái An Vi
26 – 3. Trùng Phùng Đạo Nội
111 trang
230 trang
174 trang
An Việt Houston
An Việt Houston
Vienamvanhien.net
1987
2000
 

 

 

Thái Bình
(Mở rộng khắp Thái Bình Dương)

27 – 1 .Những Dị Biệt Triết Lý Đông Tây
28 – 2. Hoa Kỳ &Thế Chiến LượcToàn Cầu
29 – 3. Cẩm Nang Triết Việt
30 – 4. Hưng Việt
31 – 5. Thái Bình Minh Triết
32 – 6. Gốc Rễ Triết Việt

33 – 7Việt Triết Nhập Môn

222 trang
185 trang
80 trang
125 trang
225 trang
180 trang

174 trang

Ra Khơi
An Việt Úc Châu
An Việt Houston
An Việt Houston
Thời Điểm
An Việt Houston

An Việt Houston

1969
1986
1987
1987
1997
1988
1988

 

Nguồn: http://www.vietnamvanhien.org/kimdinh.html

 

 

Kim Định: Cuộc đời và tư tưởng

 

HỒ PHÚ HÙNG

Thứ bảy, 25 Tháng 7 2015 21:06

 

Giáo sư Kim Định tên thật là Lương Kim Định, là triết gia, linh mục Công giáo. Sinh ngày 15/6/1915 tại địa phận Bùi Chu, làng Trung Thành, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ông là con trai út trong gia đình, thân phụ mất từ khi ông mới một tháng tuổi. Nhờ công dưỡng dục và nhìn xa trông rộng của người mẹ hiền, ngay từ thưở còn nhỏ, ông được gửi vào chủng viện Bùi Chu. Tại chủng viện Bùi Chu, ông được hưởng một nền giáo dục toàn diện, về đạo đức cũng như về học vấn. Với bản tính ham tìm tòi học hỏi, ngoài những môn học khác và ngôn ngữ La Tinh, ông đã tự học thêm chữ Nho và Pháp văn. Sau những năm tháng say mê và  miệt mài học tập, ông được bề trên phân công giảng dạy tiếng La Tinh tại Tiểu chủng viện Ninh Cường, Bùi Chu  từ năm 1937 đến năm 1939.

Từ năm 1939 đến năm 1943, ông học thần học tại Đại chủng viện Quần Phương, Bùi Chu và triết học tại Giáo hoàng Học viện Saint Albert le Grand, Paris. Năm 1943, sau khi tốt nghiệp triết học, ông được thụ phong linh mục và giảng dạy triết học tại Đại chủng viện Quần Phương, Bùi Chu đến năm 1946. Năm 1947, ông sang Pháp 10 năm để nghiên cứu về triết học, xã hội học và văn minh Pháp tại Institute Catholic de Paris. Trong quãng thời gian này, ông còn theo học về Nho giáo tại Institute des Hautes Études Chinoise (Viện Cao học Hán học).

Trong thời gian ở Paris, nhiều bạn bè người Pháp đã đặt ra những câu hỏi cho ông: “Việt Nam có triết lí không?”,“Các anh có nghĩ đến việc thiết lập một nền Thần học Việt Nam chăng?”… Vào thời điểm này, một số linh mục người Pháp cũng đưa ra vấn đề tìm hiểu và giải nghĩa Kinh Thánh theo tinh thần của của triết học Á Đông. Đại diện cho xu hướng này là linh mục Folliet thuộc dòng Oratorie. Sau này, trong bài Để tiến tới một nền Thần học Việt (Dân Chúa, 12/1982), ông đã kể lại lời phát biểu của linh mục Folliet viết trong cuốn Monsieur Pouget như sau: “Hiện nay người Âu Tây chưa hiểu đúng Kinh Thánh. Sách Thánh xuất phát từ Á Đông, phải do người Á Đông giải nghĩa thì mới mong đúng tinh thần của sách”.

Trong bầu không khí tinh thần này, ông đã âm thầm nuôi dưỡng một hoài bão lớn là thu thập tất cả tinh hoa của Đông – Tây, hòng xây đắp một nền Triết lí Việt Nam và một nền Thần học Việt Nam. Sau một thời gian tìm tòi và nghiên cứu, ông nhận ra rằng, muốn giải quyết vấn đề Thần học Á Đông thì trước tiên phải tìm cho ra cái tinh thần Á Đông rồi mới mong giải thích Kinh Thánh theo tinh thần Á Đông, và xa hơn nữa là thiết lập một nền Thần học Việt Nam. Vì lí do này, ông đã quay về nghiên cứu tư tưởng Phương Đông: đầu tiên là triết học Ấn Độ, triết học Phật giáo và cuối cùng là Nho giáo. Riêng về Nho giáo, ông đã nghiên cứu thấu đáo về Hán Nho, cho đến Nguyên Nho (Nho giáo Nguyên thủy) và cuối cùng là Việt Nho (Nho của người Lạc Việt). Nhờ có thời gian rộng rãi, nhờ vào nguồn tư liệu phong phú và quý báu từ Thư viện Quốc gia Paris, Văn khố sử liệu về Việt Nam tại Mission Eutrangères de Paris và tư liệu có sẵn tại Viện Cao học Hán học, ông đã lần mò và tìm ra được kho ong chôn dấu triết lí và nguồn gốc dân tộc Việt Nam.

Con đường tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu và sáng tạo của ông về triết lí Nho giáo, về văn hóa và triết lí Việt Nam được thai nghén từ khi ông còn ở Paris, thực hiện khi về lại Việt Nam và sau đó là kéo dài cho đến khi ông về cõi vĩnh hằng. Sinh thời ông bảo rằng, khi còn ở Paris, học giới đã tặng cho ông danh hiệu là Petit Confucius (ông Khổng Tử Nhỏ).

Năm 1957, ông về nước với tâm nguyện đem những chất liệu đã thâu thái xây đắp một nền triết lí hoàn toàn Việt Nam. Từ năm 1957 đến năm 1960 ông dạy triết học Đông tại Học viện Lê Bảo Tịnh, Sài Gòn. Khi Học viện Lê Bảo Tịnh được sáp nhập vào địa phận Sài Gòn thì ông bơ vơ không chỗ dựa, bởi sở học của ông không cho phép ông đi làm linh mục ở một xứ đạo. Trong giai đoạn này ông phải nhờ một số học trò cưu mang mình.

May mắn thay, cũng vào năm 1960, ông được Đại học Văn Khoa Sài Gòn mời dạy triết học Đông Phương. Lúc đó triết Đông chưa được chính thức thừa nhận ở bậc đại học, nên trong ba, bốn năm đầu ông chỉ hưởng lương theo giờ dạy. Giai đoạn này, ông vừa giảng dạy theo giáo trình hàn lâm về Nho giáo vừa cho xuất bản những tác phẩm của mình.

Tại Đại học Văn khoa, dòng tư tưởng của ông đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với sinh viên, sinh viên đã theo học ông rất đông. Ông đã ong ánh sáng mới lạ của những ngành triết học và khoa học nhân văn hiện đại để soi rọi tận nẻo âm u của kho ong cổ học Việt Nam. Những nguồn ánh sáng của Triết học Hiện sinh của Nietzsche, Jaspers và Heidegger, Phân tâm học miền sâu của Carl Jung, Cơ cấu luận của Levis Strauss, Khảo cổ học… đã được ông sử dụng thành những công cụ hữu hiệu cho công cuộc khai sơn phá thạch này.

Nhận thấy công việc đánh giá lại triết thuyết của Khổng Tử là một tình thế hết sức cấp bách nên năm 1965 ông đã cho xuất bản tác phẩm Cửa Khổng (Nguyên Nho). Trong lời tựa của Cửa Khổng, ông cho biết: “Nếu đúng theo dự tính của tác giả thì chúng còn bị cất kín trong tủ dăm mười năm nữa để được suy tư cho thành thục rồi mới nghĩ tới xuất bản. Bởi viết triết lý đòi hỏi phải như thế. Hiếm vì số sách tham khảo về triết Đông còn nghèo nàn và hiếm hoi thái quá nên tôi đành thể theo lời yêu cầu khẩn khoản của một số sinh viên và bạn hữu cho xuất bản với những khuyết điểm của chúng để góp tài liệu vào một bộ môn mà chúng tôi có tham dự, một phần hướng dẫn sinh viên trong việc nghiên cứu.”(1)

Cửa Khổng đã đưa ra những kiến giải mới mẻ và tiến bộ về triết lí Nho giáo mà trước nay ở Việt Nam người ta chỉ gọi học thuyết này là Nho học hoặc Khổng học. Ông cho rằng, triết lí là một nỗ lực tinh thần để con người thoát khỏi tình trạng vong thân và thâu hồi lại quyền tự chủ của mình trước các thế lực thần quyền cũng như thế quyền ở bên ngoài. Triết lí Nho giáo đã đạt được mục đích là giải quyết được những vấn đề căn bản trên, vì vậy nó là một nền triết lí nhân bản tâm linh trung thực nhất.

Thật là chí lí khi ông cho rằng triết lí Nho giáo luôn luôn xem trọng yếu tố con người và đạo làm người: “Sự thường người ta không ý thức nổi tầm cao trọng của con người cho nên chưa coi đạo nhân là cao trọng và xa vời đủ, bởi vậy thường quay ra tìm hiểu về trời đất quỷ thần vốn chiếm chỗ cao hơn trong óc của họ, vẫn được suy tôn là xa vời và thần diệu hơn người nhiều, vì thế số phục vụ cho con người  trọn vẹn từ đầu đến cuối trở nên hiếm hoi so với số người phục vụ cho thế lực khác…”(2).

Trước trào lưu phát triển mạnh mẽ và thành công của thế giới phương Tây, nhiều trí thức thuộc thế hệ trước của Trung Hoa vô cùng oán hận Khổng giáo, họ cho rằng sự thất bại của đất nước Trung Hoa trong thời cận đại là do di sản của Khổng Tử nên đã đổ tất cả tội lỗi lên đầu ông. Bằng những lập luận vững chắc và hết sức thuyết phục của mình trong Cửa Khổng, ông đã minh oan được cho Khổng Tử và Khổng giáo. Để minh chứng điều này, ông dành nguyên một chương có nhan đề “Những ấn tích Triết lý Khổng lưu lại trên đời sống hiện đại của Tây Âu”. Trong chương này, ông cho biết các học giả có uy tín tại Tây Âu từng nói về sự ảnh hưởng của học thuyết Khổng Tử  đối với công cuộc giáo dục và sự tiến bộ trong xã hội của họ – bắt đầu từ thế kỉ XVIII.

Năm 1965 Nhân Bản ra đời nhằm đặt nền móng và khơi lại lòng mến mộ cho đạo làm người. Đây là tác phẩm mở đầu cho lộ trình tư tưởng của ông trên con đường sáng tạo ra nền Triết lí An Vi. Cũng bắt đầu từ đây, ông âm thầm khai quật, hệ thống hóa và liên tục công bố những công trình triết lí cũng như văn hóa Việt Nam trong suốt giữa thập niên 1960 cho đến đầu năm 1975.

Nhân Bản tiếp tục đề cao địa vị và cứu cánh của con người trong vũ trụ nhân linh, một ngôi vua trong ba ngôi vua “Thiên – Địa – Nhân” (Tam Tài). Ông đưa ra khái niệm thiên khởiđịa khởi và nhân khởi để đối chiếu, so sánh về vấn đề quan tâm của các nền văn hóa khác nhau như Hi Lạp, Âu Tây và Viễn Đông. Ông đi từ thần thoại Hi Lạp, đến triết học duy lí của Âu Tây, cho đến nhân thoại của Viễn Đông để cuối cùng đưa ra kết luận rằng, không có ở đâu mà con người được đề cao như ở Viễn Đông, quê hương của nền triết lí nhân bản tâm linh. Ông đã mượn bài thơ Vịnh Tam Tài của nhà Nho, nhà cách mạng Trần Cao Vân để lập luận của mình thêm phần mạnh mẽ. Trước khi bàn về bài Vịnh Tam Tài, ông đã đánh giá bài thơ như sau: “Quả là một bài thơ triết lý có tầm xích mênh mông như vũ trụ. Cái tài tình của bài thơ là tự đầu chí cuối Trời, Đất, Người luôn luôn cùng xuất hiện “ba mặt một lời xoắn xuýt trong nhất thể u linh”(3)

Tại sao nền triết lí mà ông xiển dương được gọi là An Vi? Ông cho biết: “Thuật ngữ an-vi không có trong triết Đông, nhưng chúng ta có thể ong tài-liệu như những câu: “thân lao nhi tâm an, vi chi”身勞而心安爲之(Tuân Tử: thân xác nhọc mà lòng an thì cứ làm) để đưa ra thuật ngữ an-vi, tương đương với an hành. Vô vi sẽ là đối cực với hữu vi, cả hai còn ở trong bình diện nhị nguyên, còn an vi sẽ chỉ tâm thức nhất-nguyên lưỡng-cực vượt ra khỏi nhị-nguyên, không hữu cũng như vô, không chống đối nhưng là thâu hóa. Nói an-vi là trong trường hợp đi với hữu vi vô vi. Còn nói chung thì nó là đợt trung dung: “hữu nhược vô, thực nhược hư” (LN. VIII. 6) 有若無實若虛 có mà như không, thực mà như giả. Đấy là một đợt phải tế vi lắm mới đạt được, vì nó rất mong manh bé nhỏ vô ý một chút là ngả sang hữu hoặc vô.”(4). Như vậy,  An Vi chính là quân bình động đích giữa Hữu Vi và Vô Vi.

Nốitiếp công việc chưa làm xong của Nhân Bản,  năm 1967 ông cho xuất bản Chữ Thời. Chữ Thời là tác phẩm bàn về siêu hình Kinh Dịch. Ông cho rằng siêu hình Tây Phương là hoàn toàn trừu tượng, siêu hình Viễn Đông tuy cũng trừu tượng nhưng lại đâm rễ cụ thể xuống các thể chế như lịch pháp, thiên văn… Đó là phương thức đem triết lý vào cấu trúc của xã hội và cải hóa tâm tính con người. Lời giới thiệu sách của ông tuy ngắn đã nói lên được cốt tủy của Chữ Thời, vì vậy tôi trích dẫn lại hoàn toàn:

“Muốn hiểu biết thêm về con người, cần phải biết địa vị của con người trong trời đất, trong vũ trụ, hay nói theo tiếng mới trong không thời gian.

Nhận thấy cơ cấu thời-không cũ đang sụp đổ, tác giả đi gõ cửa những nhà khoa học lớn như Einstein với thuyết tương đối trình bày thời gian như chiều kích thứ tư của vạn vật… rồi đi gõ cửa các triết gia hiện đại nhất là Heidegger tác giả cuốn “Hữu thể và Thời gian”. Sau đó trở lại với Đông Phương khảo sát quan niệm Chữ Thời trong Kinh Dịch, Kinh Thư. Chúng ta sẽ  được thích thú nhận ra sự gặp gỡ Tây Đông trên cấp bậc tối thượng. Chúng ta sẽ hào hứng khi khám phá ra nền siêu hình sâu thẳm tiềm ẩn trong Tam Tài, Ngũ Hành, Hồng Phạm, Thái Thất… với nền triết lý của lịch pháp Đông Phươngđặt nền móng cho huyền sử, cung ứng chìa khóa để mở kho ong bí ẩn của Văn hóa nước nhà hầu xây đắp một nền triết lý Việt Nam mới hợp cho cảm quan của con người thời đại.”(5)

Đây là một cuốn sách mang tính hàn lâm và thuộc vào loại khó đọc nhất trong toàn bộ tác phẩm của ông. Về sau, trong lời bạt của tác phẩm Căn bản triết lý trong văn hóa Việt Nam, ông bảo rằng, cuốn này là cuốn sách dễ nhất, ông hoàn thànhtrước kì hạn để bù lại cho Chữ Thời – một cuốn sách khó nhất trong bộ sách.

Tuy vậy, tác phẩm này cưu mang một sức mạnh tâm linh to lớn, nó đã làm thay đổi nhận thức của nhiều độc giả. Ông từng cho biết, nhiều người nhờ đọc Chữ Thời vài lần mà tự nhiên cảm thấy an nhiên, thanh thoát, và những biến cố ở đời hay cả vấn đề sinh tử cũng không còn nặng nề với họ như trước đây.

Năm 1969 ông cho xuất bản Những Dị Biệt Giữa Hai Nền Triết Lý Đông Tây. Với ông, tác phẩm này ghi lại kỉ niệm về một chặng đường mà ông đã đi qua mảnh đất Vô Vi của Ấn Độ. Mục đích của Những Dị Biệt Giữa Hai Nền Triết Lý Đông Tây là đánh động tâm thức người đọc để họ nhìn nhận lại giá trị tinh thần của Đông Phương.

Ở đây, ông đã đưa ra những nét đặc trưng của hai nền triết lý Đông – Tây, phân biệt rõ ràng giữa minh triết, triết lí, triết học và cho rằng triết học là cấp bậc thấp nhất về triết. Ông đã chứng minh một cách thuyết phục rằng, Đông Phương thiên về minh triết và triết lí, còn Tây Phương thì thiên về triết học. Ông đã đề cao sứ mệnh của Triết Đông trước sự đổ vỡ của nền triết học cổ điển Tây Phương, và cho rằng một triết gia Tây Phương ngày nay mà không biết gì đến triết Ấn Độ và Trung Hoa – ít ra về lập trường chung, thì bị ongà thuộc vào thời kì trước khi Colombo tìm ra Châu Mỹ.

Ông đã nêu cao địa vị của triết lí và văn hóa của Ấn Độ trong tư tưởng Tây Phương hiện đại. Từ cuối thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX, những tác phẩm kinh điển của Ấn Độ được lần lượt dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp. Những dịch phẩm này đã được giới trí thức, học giả, văn sĩ của Tây Phương đón nhận một cách nồng nhiệt, và nó đã ghi lại dấu ấn trên tâm thức của con người đương đại.

Tuy là linh mục Thiên Chúa giáo nhưng ông đã đề cao Tâm Đạo và cho đó là chìa khóa để mở kho ong truyền thống. Ông cũng là người đã say mê truyền thống tâm linh của Đông Phương, đoạn trích dẫn dưới đây sẽ cho thấy điều này:

“Bỏ Triết học Âu Châu bước vào Triết lý Đông Phương độc giả thường bị kích động do một bầu không khí mới mẻ gây ra do chữ Vô. Chữ Vô thường được nhắm như một lý tưởng, khác hẳn với triết học Thái Tây nhắm hữu vi. Vô vi của Lão Trang đã trở thành nhãn hiệu của đạo học. Dấn thân vào đời đến như Khổng mà còn tiếc xót cái “vô vi chi trị” và “Dư dục vô ngôn” coi như một lý tưởng cao hơn hữu vi, và Khổng Tử đã tu luyện cho đạt tới tứ vô (Tử tuyệt tứ: “vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã”). Bước vào Phật giáo lại càng rõ ràng: ở đây vô ngã được đẩy xa đến nghĩa bản thể, nghĩa là phủ nhận cái tự ngã. Và Phật Đại thặng còn đi xa hơn, không những thoát chấp ngã như Tiểu thặng, mà còn thoát luôn cả chấp Pháp nữa. Hàng trăm quyển “Minh triết siêu việt” (Prajna Paramita) đều xây trên chữ vô, bản “bát nhã tâm kinh” tóm lại cái tinh túy của bộ sách khổng lồ kia vào chừng hai trăm chữ thì trong số đó đã có tới ba chục chữ rồi. Cho nên người ta nói quyển kinh “Bát nhã” vắn nhất, chỉ có một vần (ekaksari) đó là vần A (VÔ). Thật là một kiểu tóm tài tình: Vì luận đề nòng cốt vẫn xoay quanh chữ VÔ ( A).

Thế nghĩa  là cái phần đặc sắc và quý nhất của Triết Đông lại là cái học lấy VÔ làm hồn sống. Vô cực đặt trên thái cực. Nhân sinh lý tưởng con người đặt ở VÔ: “Thánh nhân vô công, vô kỷ, vô danh” “Xử dân vô tri vô dục” (LÃO). “Đại nhân vô tư, dĩ đạo vi thể” (Nho: quẻ Kiền). Thánh Gandhi: “Tôi tự diệt cho đến số không” (Je me réduis à ong) là âm hưởng hiện thời lắp lại Ấn Độ giáo xưa xây trên Neti, Neti: không phải là cái này, không phải là cái kia. Bên SAT (hữu) còn có Asat: Vô hữu, cũng như trong phương pháp hành đạo lấy tĩnh lặng làm chủ.”(6)

Giáo sư Kim Định cho rằng nhờ khám phá ra con ong (số không) mà Ấn Độ đã đẩy toán học đi một bước thật xa, lập nên hệ thống thập phân và phát minh ra đại số. Sau này con số ong truyền sang Âu Châu qua ngả Ả Rập. Lúc ấy, không ai ngờ được ảnh hưởng của con ong đối với khoa học. Ngày nay, để đáp lại món quà khoa học kĩ thuật mà Âu Châu đã tặng cho nhân loại, Á Châu sẽ lấy gì để đóng góp? Ông đề nghị, Á Châu nên tiếp tục đóng góp con ong một lần nữa, bởi vì về mặt tinh thần thì sự đóng góp của nó sẽ còn cao quý hơn là đóng góp cho toán học trước đây. Với ông, dịch phẩm Tibetan Yoga and Secret Doctrines (Yoga Tây Tạng và Bí Pháp Thượng Thừa), chính là món quà quý báu mà học giả người Anh W. Y. Evant Wents đã đem về tặng cho Châu Âu. Ông nhấn mạnh: “Tất cả nhắc lại con ong đã nói trên kia, một con ong tinh thần hay là tâm đạo mà tôi cho là viên thuốc duy nhất có sức chữa được bệnh trạng nhân loại hiện nay.”(7)

Tâm Tư được xuất bản năm 1970, là gạch nối giữa Nhân Bản và Chữ ThờiNhân Bản dẫn đến con người toàn diện. Chữ Thời dẫn đến việc con người nhận ra cái tâm bao la như vũ trụ của mình. Tâm Tư là khoa Siêu lý của Viễn Đông, gọi theo ngôn ngữ Tây Phương là Siêu hình của Viễn Đông. Theo tôi, sở dĩ ông không ong từ siêu hình, bởi vì đã qua nhiều thế kỉ, nền triết học Âu Tây đã hiểu sai và ong sai từ siêu hình. Nhiều triết gia hiện đại của họ cho rằng siêu hình trong triết học của Tây Phương bắt đầu từ Aristote trở về sau là thứ siêu hình không đích thực. Tâm Tư là phương pháp suy tưởng bằng tâm; ong ý tưởng để nhận biết sự thật, ong tình thâm để cảm nghiệm được vẻ đẹp và nuôi dưỡng tâm hồn, ong chí khí để tu luyện hòng thể nghiệm được chiều kích vũ trụ nơi mình và nhận ra được cái Toàn Thể.

Trong lời tựa, ông đã nói về Tâm Tư như sau: “Khoa an tư hay tâm tư nhằm giúp vào việc nhận thức ra đáp ứng nhu yếu có tính cách vũ trụ của con người đại ngã Tâm linh, sự nhận thức đó cũng được gọi là Ý-thức-vũ-trụ hay là “Thiên địa chi tâm”. Người thường mới có thiên địa chi ý, chi tưởng nhưng chưa có thiên địa chi tâm. Để có được vũ trụ chi tâm thì cần rút bớt nghị lực ra khỏi ý, khỏi tưởng, của tướng đặng đầu tư vào việc hàm súc tinh luyện những mối tình vi tế cho tới khi nào thể nghiệm được qua thân tâm rằng mình cùng với vũ trụ cùng rung theo một tiết nhịp, lúc ấy mới trúng là “thiên địa chi tâm” và đó là chỗ hướng tới của kho tâm tư mà ta có thể gọi là “phép dịch hóa Thân tâm trụ”(dialectique cosme-psycho-somatique) được trình bày trong quyển này qua một hai lối hành xử, dăm ba câu nói, một hai bài thơ.”(8)

Đích điểm của Tâm Tư là “triêu văn đạo”. Triêu văn đạo là nghe Đạo trong ánh bình minh nguyên sơ, nghe được diệu âm từ miền sâu thẳm, tĩnh lặng. Khi đã ngộ đạo, tâm hồn con người an nhiên tự tại và rộng mở đến vô biên, tình yêu thì tràn đầy và tuôn trào lai láng. Vũ trụ không còn là cái gì xa cách, riêng rẽ mà đã trở thành một với mình.

Để chuẩn bị cho sự ra đời Việt Lý Tố Nguyên, ông cho xuất bản Căn bản triết lý trong văn hóa Việt Nam.Tác phẩm nàylà bước đầu cho hành trình trở về nguồn của ông. Ở Căn bản triết lý trong văn hóa Việt Nam, ông đã tìm ra được bóng dáng hồn nước qua lễ gia tiên, qua tiếng vọng của Văn Tổ và Văn Miếu và cũng nêu lên được sự khác biệt cơ bản giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa. Phương pháp huyền sử cũng bắt đầu manh nha tại đây. Đoạn viết sau sẽ cho chúng ta thấy ông đã bắt đầu đề cập đến nguồn gốc văn hóa và dân tộc Việt Nam: “Nếu ta đưa mắt tinh thần nhìn về quãng thời gian cách đây chừng 4000 năm mà nhìn đoàn người Lạc Việt di cư từ Hồ Động Đình, hay bờ ong Dương Tử để tiến xuống phía nam, thì chúng ta chắc thấy trong quang gánh của những tổ tiên xa xăm đã có quyển Kinh Dịch ít ra ở trạng thái phôi thai. Lúc đó chữ Nho cũng còn đang trong giai đoạn hình thành: có lẽ mới bỏ chặng thắt nút (kết thằng) để đi sang hình chữ con quăng mà ta thấy ong ở đời nhà Chu gọi là chữ khoa đẩu, sau đến đời Tấn Hán mới thay thế bằng chữ Lệ như ta thấy hiện nay”(9)

Việt Lý Tố Nguyên ra đời năm 1970, đánh dấu một giai đoạn sáng tạo vô cùng rực rỡ của ông. Tác phẩm này là tiếng sấm báo động cho một cơn mưa lạ, vì thế nó đã thu hút được sự chú ý của nhiều trí thức và sinh viên thời bấy giờ. Bằng ánh sáng của cổ sử, của khảo cổ học và trực giác siêu việt của một bậc hiền triết, ông đưa ra những kiến giải rất thuyết phục về nguồn gốc của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh việc tìm về nguồn gốc của dân tộc, ông công bố rằng, dân tộc Việt Nam đã có một nền minh triết sâu sắc và một nền văn hóa rực rỡ, khác hẳn với triết lí và văn hóa của Trung Hoa. Ngoài ra, Việt Lý Tố Nguyên cònlà cuốn sách thuộc loại “triết lí lịch sử” xuất hiện đầu tiên tại Việt Nam.

Trước khi Việt Lý Tố Nguyên được xuất bản,trong lời bạt của Những dị biệt của hai nền triết lý Đông Tây ông đã giới thiệu về nó như sau:

“Đây là quyển sách then chốt cho tất cả các quyển khác trong bộ đã ra và sẽ ra, nó quan trọng ngang với Chữ Thời về đàng sâu nhưng đi lối huyền sử nên dễ đọc hơn Chữ Thời rất nhiều, vì nó vận dụng rất nhiều huyền thoại của Viễn Đông để soi dọi vào nguồn gốc nước ta về các phương diện văn minh, văn hóa, dân tộc, thể chế, sử ký, địa dư, phong tục, tập quán, lễ giáo v.v… Nó sẽ trả lời cho những vấn đề chưa ai tìm được ra câu đáp: như dân tộc tính là gì? Đâu là những đặc tính của dân tộc Việt Nam. Nền văn hóa Việt Nam có những gì phát huy… Những vấn đề này thiếu phần đóng góp của triết lý sẽ không gặp được câu trả lời  thỏa đáng, chẳng hạn tại sao ca dao lại có địa vị quan trọng trong văn chương Việt? Hoặc Việt tộc đã đóng góp những gì cho nền văn hóa Viễn Đông? Ý nghĩa các danh hiệu nước ta (Xích Quỉ, Văn Lang, Giao Chỉ…) ý nghĩa tết mồng 5 tháng 5… Việt Lý Tố Nguyên sẽ dẫn độc giả vào những miền xa lạ mà cho tới nay chưa có học giả nào đặt chân đến, tuy vậy rất thiết cận đến tiền đồ tổ quốc chúng ta.” (10)

Đến khi xuất bản Việt Lý Tố Nguyên, ông còn giới thiệu thêm về tác phẩm này một lần nữa:

“Đây là công trình của một cuộc khảo cổ khác thường, không dừng lại ở khảo cổ, ở bác học nhưng phóng tầm mắt ra bên ngoài, bên trên, bên dưới khảo cổ, lịch sử, bác học để cố tìm ra những nét căn bản chạy ngầm xuyên qua lịch sử nước nhà, những tính chất có ngay từ đầu và sẽ còn lại mãi mãi với dân tộc, nên gọi là Tốtheo nghĩa “bản lại cố hữu”.

Độc giả sẽ nhận ra lối khảo cổ như trên chiếu rất nhiều tia sáng kỳ lạ vào con đường chúng ta phải đi để đến đợt văn minh chân thực. Như thế sự quay về để học lại nguồn gốc nước nhà với mọi khía cạnh văn minh, văn hóa, định chế, sử địa, văn chương… không còn là một việc khảo cổ suông trong thư viện nữa nhưng chính là giúp vào việc kiến quốc, tìm ra và củng cố tinh thần dân tộc, đặt nền tảng vững chắc nhất cho nền quốc học mai ngày vậy.”(11)

Thiết tưởng, những lời giới thiệu của ông về đứa con tinh thần yêu quý nhất của mình ở trên đã nói rất rõ về nội dung của của nó. Phải chăng đây là tác phẩm tâm đắc nhất của ông?

Cũng vào năm 1970, ông cho ra đời tác phẩm Dịch Kinh Linh Thể. Theo nhận định chủ quan của người viết, cuốn sách này tuy khá mỏng nhưng ẩn ong một sức mạnh dị thường, bởi nó đã kiến giải được phần thâm sâu và đặc sắc nhất của Kinh Dịch. Dịch Kinh Linh Thể cònlà một tác phẩm về Kinh Dịch lạ lùng nhấttừ trước đến nay của người Việt. Ông không lan man chú giải hết 64 quẻ Dịch và những phần khác trong bộ kinh như những học giả khác mà chỉ ong vài câu trong phần Hệ Từ và duy nhất một quẻ Kiền để dẫn dắt người đọc đi thẳng vào phần cốt tủy của Kinh Dịch.

Khi nói về Kinh Dịch, ông đưa ra một đề quyết động trời, có thể làm sửng sốt người đọc và gây tranh cãi ở tầm cỡ quốc tế. Với ngôn từ của một Ki Tô hữu, ông đã dám khẳng định rằng:

“Người Việt có hai tội tổ tông truyền:

Một: quyển Kinh Dịch là của người Việt

Hai: một số người đọc thì lại đọc theo lối Tàu, lối Tây mà không biết đọc theo lối Việt Nho.

Quyển này nhằm rửa sạch hai tội đó.” (12)

Trước khi đọc cuốn Dịch Kinh Linh Thể, tôi đã đọc các sách dịch và chú giải về Kinh Dịch của Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Duy Tinh. Khi đọc các vị này, tôi nhận thấy Kinh Dịch cũng bình thường như bao sách khác, và nếu như vậy thì  Kinh Dịch có gì đặc sắc mà người ta lại ca ngợi. Khi đọc ông, tôi mới ngộ ra được cái tinh hoa của Kinh Dịch. Ông đề nghị đọc Dịch một cách rất sáng tạo, đọc theo lối Kỷ Dịch – đọc Dịch ở nơi thâm sâu của lòng mình. Nếu đọc Kinh Dịch, thực hành và tu luyện theo cách này, con người sẽ đến cảnh giới nội thánh ngoại vương của thánh nhân và có thể an bang tế thế.

Để tiếp nối cuốn Nhân Bản,ông cho xuất bảnLạc Thư Minh Triết vào năm 1971. Theo tôi, đây là hai tác phẩm rất then chốt, có thể nói là rất quan trọng, bởi vì nó bàn về tính mệnh và cứu cánh của con người – đích điểm mà chúng ta cần phải đạt đến.

Trong Lạc Thư Minh Triết, ông khuyến khích một đời sống tự lập, tự cường về mặt tinh thần, ca ngợi và xưng tụng sự cô đơn. Trong sự xa vắng tiếng ồn ào của thế tục và rộn rã của trần gian, con người cô đơn mới dễ dàng tìm lại cội nguồn chân thực của mình, cội nguồn đó chính là Thần – Thần tính Nội tại. Cô đơn còn là cơ hội để sáng tạo và xây dựng nên sức mạnh tinh thần, là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại. Ông cho rằng, trong lịch sử loài người chưa có công trình vĩ đại nào mà không được thai nghén trong cô đơn, cũng như không có đại nhân chân thực nếu không được nuôi dưỡng trong cô đơn.

Dù không được ông nói rõ ra nhưng tôi nghĩ rằng, tác phẩm này đã manh nha một nền Thần học Việt. Lạc Thư Minh Triết có đôi chỗ bàn về những vấn đề siêu hình của Đông Phương mà các cuốn trên chưa từng đề cập. Theo ông, cơn khủng hoảng của giáo hội Thiên Chúa giáo hiện nay là do nền Thần học Tây Phương gây ra. Ông cho rằng, “muốn thoát khỏi khủng hoảng thì cần trở về nguồn để  tìm ra ý nghĩa chân thực của Thánh Kinh khi mới vừa xuất phát, nghĩa là còn trong bầu không khí Đông phương”(13).

Thay vì chọn Thần học Thiên Chúa giáo để giải quyết vấn đề khủng hoảng tư tưởng và sự biến động của thời đại, ông lại chọn nền Minh Triết của Lạc Việt (Lạc Thư Minh Triết)nơi mà ông cho là sản sinh ra một nền triết lí nhân sinh tốt đẹp nhất và có thể làm lối thoát cho sự bế tắc tư tưởng của con người Việt Nam hiện đại. Từ một cái nhìn thấu triệt, ông tự mình thoát khỏi tư duy truyền thống của triết học kinh viện và Thần học Thiên Chúa giáo. Lạc Thư Minh Triết chắcđã làm cho bề trên của ông không vừa lòng, bởi vì tư duy của ông là tư duy vượt thoát, một tư duy không nô lệ cho bất kì thế lực thần quyền nào. Tuy là linh mục nhưng sách của ông không được phần đông Ki Tô hữu đón nhận một cách nồng nhiệt. Có thể nói rằng, Lạc Thư Minh Triết là bức thông điệp của một linh mục Thiên Chúa giáo đã giác ngộ được giá trị thâm sâu của văn hóa Đông Phương, gửi đến cộng đồng Ki Tô hữu của mình.

Lạc Thư Minh Triết đề nghị một lối sống thật minh triết và hợp với đạo lí của người Việt. Ông bảo rằng, nên tìm đạo ngay trong đời sống thường nhật, tìm cái phi thường trong những cái thường thường. Nếu tìm cái phi thường trong những cái phi thường thì sẽ không bao giờ tìm được, mà trái lại còn khiến đời sống trở nên vô đạo. Cách nói của ông giống như một thiền sư của nhà Phật: Tìm sự giác ngộ trong việc gánh nước, bửa củi, nấu cơm…

Năm 1973, Loa Thành Đồ Thuyết ra đời. Khởi hứng từ kiến trúc của thành Cổ Loa, ông đề nghị Loa pháp (phương pháp trôn ốc), tức là phương pháp tu dưỡng cái đạo làm người, và càng ngày càng tiến lên cao theo hình trôn ốc để trở thành hiền nhân, thánh nhân. Theo ông, hiền nhân quân tử của Á Đông là mẫu người rất quân bình mà nền triết lí An Vi cần phải hết sức chú ý. Mẫu người này có được nhiều ý chí, lắm tình cảm, và một chuyên môn vững ong. Họ là người có nhiều lí tưởng nhưng rất thực tế, sẵn ong dấn thân để xây dựng tiền đồ của dân tộc và kết quả sẽ thật hữu hiệu.

Trong Loa Thành Đồ Thuyết, một mặtông lên án cách sống của những người có chuyên môn cao nhưng sống vô hồn, vô hướng, chỉ biết làm việc ong hục như trâu mộng để kiếm tiền. Với hạng người này, ngoài đời sống sinh lí ra, không còn biết gì đến những mối tình cao cả của con người, của tâm linh tiến hóa. Mặt khác, lên án một số người đang chạy theo đủ loại thiên tài điên loạn trên thế giới. Ông bảo: “Âu-Mỹ giàu vô kể, nên cũng có vô vàn khả năng tiến triển trước mắt, chứ như Việt Nam, túng xác túng xơ chỉ còn chút vốn liếng đạo làm người mà cũng vất bỏ thì còn gì nữa mà xây Loa thuyết”(14).Thiển nghĩ, những ai có trách nhiệm xây dựng chương trình giáo dục cho dân tộc cần phải lưu ý những điểm trên.

Từ nền tảng Triết lí An Vi ông xây dựng chủ thuyết Việt Nho. Chủ thuyết này có hai phần: Đạo Nho siêu việt và Đạo Nho của người Lạc Việt.

– Đạo Nho siêu việt: Ông đã chú giải kinh điển Nho giáo theo cách hoàn toàn sáng tạo và mới lạ, chưa từng thấy ở các nhà Nho trước đây và những người thuộc trường phái Tân Nho giáo ở Đài Loan. Ông đã ong phương pháp so sánh, đối chiếu Nho giáo Nguyên thủy – đạo Nho khi chưa bị Hán Nho bóp méo, xuyên tạc – với Phân Tâm học miền sâu, triết học hiện sinh của ba tác giả đã kể trên, sau đó là cảm nghiệm và suy tưởng trong một thời gian lâu dài để sáng tạo ra triết thuyết của mình. Ông cho người đọc nhận thấy những giá trị Nhân bản Tâm linh của kinh điển Nho giáo cũng rất thích hợp với trào lưu triết học hiện đại. Những tác phẩm dành cho chủ đề này là: Những Dị Biệt Của Hai Nền Triết lý Đông Tây, Cửa Khổng, Nhân Bản, Chữ Thời, Tâm Tư…

– Đạo Nho của người Lạc Việt và Nguồn gốc văn hóa Việt Nam: Ông ong ánh sáng của phương pháp huyền sử để soi rọi đêm trường âm u của văn hóa Việt Nam. Huyền sử là một phương pháp khai quật văn hóa và truy nguyên nguồn gốc dân tộc từ những biểu tượng, những huyền thoại và truyền thuyết của dân tộc, mà ông là người đặt nền móng và cũng là người ong nó để xây dựng giả thuyết của mình. Ông tuyên bố, Nho giáo là do người Việt cổ khai sinh nhưng đã được người Trung Hoa hoàn tất, và cũng bị họ làm cho sa đọa, sứ mạng của Triết Đông là phải trả lại cho Nho giáo sự chính truyền của chủ cũ. Ông đã sử dụng khảo cổ học, ngôn ngữ học, phân tâm học và cơ cấu luận để lí giải nguồn gốc văn hóa và nguồn gốc dân tộc Việt. Những ý tưởng táo bạo này sẽ được đón nhận nồng nhiệt và gây tranh cãi trong tương lai mai hậu. Những tác phẩm dành cho chủ đề này là: Căn Bản Triết Lý Trong Văn Hóa Việt Nam, Việt Lý Tố Nguyên, Dịch Kinh Linh Thể, Lạc Thư Minh Triết, Triết Lý Cái Đình, Loa Thành Đồ Thuyết, Vấn Đề Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam…

Tuy rằng bắt đầu từ Việt Lý Tố Nguyên trở về sau, ông hầu như hoàn toàn quan tâm đến việc trở về nguồn, nhưng không phải vì thế mà phần Đạo Nho siêu việt bị ông lơ lãng. Hai chủ đề này luôn đan xen và hòa quyện lẫn nhau trong các tác phẩm trên, vì vậy phần lớn độc giả thường sa đà vào những chi tiết về nguồn gốc văn hóa và dân tộc mà không nhận ra được Đại Đạo – xương sống để tạo nên nền Triết lí An Vi.

Không những là một triết gia, ông còn là một người quan tâm đến vấn đề giáo dục đại chúng. Ông cũng là một nhà giáo dục rất sâu sắc, một người có tầm nhìn rất xa về vận mệnh dân tộc. Bởi vậy ông luôn đề cao việc lấy sự giáo dục con người làm căn bản. Các tác phẩm bàn về giáo dục của ông như: Triết lý Giáo Dục, Định Hướng Văn Học, Hiến Chương Giáo Dục, Vấn Đề Quốc Học đều nêu lên sự vô cùng cần thiết của một nền giáo dục mang tính nhân bản tâm linh, tính dân tộc. Ông đã bỏ nhiều công sức để nghiên cứu, đối chiếu và so sánh về những nét cơ bản của những nền giáo dục lớn của nhân loại như Âu Tây, Ấn Độ và Viễn Đông, để rồi đưa ra một chiến lược giáo dục thích hợp và lâu dài cho dân tộc. Ông từng phát biểu: “Một dân tộc cũng như một cá nhân, chỉ có thể chống lại đoàn lũ hay những tư trào tràn vào gieo rắc phân tán dân tộc mình là khi nào tâm thức dân tộc ấy được tổ chức chu đáo trên một cơ sở tinh thần vững mạnh.”(15)

Ý nguyện ban đầu của ông là thiết lập một nền Thần học Việt, nhưng về sau ông đã chuyển hướng và dành toàn bộ tâm lực để sáng tạo ra nền Triết lí An Vi. Có lẽ ông cho rằng việc xây đắp một nền triết lí hoàn toàn Việt Nam là điều cấp bách hơn; và việc xây dựng một nền Thần học Việt sẽ do thế hệ tín hữu Công giáo sau ông làm thay, còn ông chỉ là người đưa ra ý tưởng cho một công việc vô vàn khó ong và thử thách này.

Triết lí An Vi và chủ thuyết Việt Nho mà ông đề xướng nhấn mạnh vào những chủ đề chính: tâm linh, nhân chủ, tự do, bình sản, thái hòa. Đây không phải là thứ triết học hàn lâm, trường ốc, khô khan và nhạt nhẽo chuyên dành cho những nhà chuyên môn, mà nó là một nền triết lý sống động, mang âm hưởng vào xã hội và có được sức mạnh chuyển hóa lòng người. Vì khuôn khổ có hạn của một bài viết, ở trên tôi chỉ giới thiệu những tác phẩm then chốt đã xuất bản trước năm 1975. Theo cảm nhận của riêng tôi, những tác phẩm này có một sức hút lạ thường, một tầm ảnh hưởng diệu kì; nó có thể gây nên sự chấn động trong tâm thức và làm thay đổi vận mệnh của bất kì độc giả nào đắm chìm vào trong đó.

Trước năm 1975, tiếng tăm của ông vang dội trong giới học thuật, ông được đánh giá như một ngôi sao sáng trên bầu trời triết học Việt Nam. Lần lượt, ông đã được các đại học miền Nam Việt Nam mời dạy ở như: Đại học Vạn Hạnh (1967-1975), Đại học Đà Lạt, Đại học Minh Đức, Đại học An Giang, Đại học Cần Thơ, Đại học Thành Nhân (1971-1975). Ông cũng đã được Đại học Văn Khoa – Huế mời dạy, nhưng những biến động lớn của đất nước đã không cho phép ông thực hiện ý định truyền bá nền triết lí của mình ở trong nước nữa.

Năm 1975, ông di cư sang Hoa Kì. Trong gần 10 năm đầu, ông ở nhờ nhà một người bà con. Vì nhu cầu của những người học trò cũ yêu mến, ông đã cố gắng thu thập và cho in lại một số tác phẩm đã xuất bản trước năm 1975. Cũng trong thời gian này, ông liên lạc lại với một số học trò cũ, và bắt tay vào việc xây dựng các nhóm An Vi.

Sau khi được tiếp xúc với nền văn minh tư bản, nhìn sức sống trẻ trung, mạnh mẽ của Hoa Kì, ông nhận thấy sức mạnh của thế giới tư bản thực là phi thường. Điều này đã làm ông khâm phục. Nhưng ông cũng nhìn nhận rằng, xã hội tư bản tuy giúp cho con người được nhiều tự do, nhiều động cơ vươn lên để tìm kiếm những tiện nghi về vật chất nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề gốc rễ của con người. Nền văn minh Âu Mỹ có sức quyến rũ đối với mọi người, nó đã đạt được mục tiêu là làm cho họ vui tươi, thoải mái, nhưng thực ra, đó chỉ là bộ mặt, là cái vỏ bề ngoài, chứ chưa thấm đẫm vào tâm hồn. Theo ông, xã hội Âu Mỹ chưa có một chủ đạo làm căn bản cho một tương lai lâu dài.

Nhờ có nhiều thời giờ hơn để đọc sách, để thâm cứu và suy tưởng thêm, cái nhìn của ông đã mở ra một viễn cảnh mới. Trong tiến trình xây đắp triết thuyết Việt Nho, từ giả thuyết ông nâng thành chủ thuyết, từ Việt Nho nâng lên hàng Thái Nho, triết thuyết của ông trở nên bao trùm và sâu sắc hơn. Sau một thời gian dài thai nghén, ông đã liên tiếp cho ra đời bộ Ngũ Kinh Khải Triết: Hùng Việt Sử Ca, Kinh Hùng Khải Triết, Pho Tượng Đẹp Nhất Của Việt Tộc, Sứ Điệp Trống Đồng, Văn Lang Vũ Bộ. Ông mong muốn bộ Ngũ Kinh Khải Triết sẽ là bộ sách dân tộc đối với người Việt đang phiêu bạt ở xứ người, và cũng có thể là cho cả dân tộc Việt Nam trong tương lai. Theo ông, bộ kinh này là di sản thiêng liêng của quê nước, nó sẽ nhắc nhở cho người Việt đang xa xứ không bao giờ được quên nguồn gốc và dân tộc mình. Ông nói rằng: “Nếu mình không gắn bó với nó thì ngày mai sẽ trở nên một giống vô loại. Khuôn mặt và màu da không cho phép mình hòa đồng với người Tây Âu” (17). Vì quá yêu nước, lời nói của ông mạnh mẽ nhưng hơi cực đoan. Có thể đó là một cách gây sự chú ý cho cộng đồng người Việt chăng?

Tháng 08/1984, ông được mời sang Đài Loan tham dự Hội nghị Quốc Tế về Triết Trung Hoa tại Đại học Đông Hải. Trong hội nghị này, ông đã phát biểu một tham luận có nhan đề “Vai trò Nho giáo Có thể Đảm nhiệm trong Thế giới Ngày nay” (The Role and the Conditions of Ju in Our Present Age). Cuối năm 1984, Văn Phòng Mục Vụ Di Dân của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kì tài trợ một năm để ông nghiên cứu về các cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Hoa Kì. Ông đến cư ngụ mấy tháng tại trụ sở của văn Phòng Nghiên Cứu Xã Hội ở Garden Grove. Nơi đây ông đã gặp rất nhiều thân hữu, các nhóm học trò cũ, và thế là chương trình An Vi được phát động. Chương trình này có mục đích phổ biến triết thuyết Việt Nho, nơi gặp gỡ những người có cũng chí hướng và sống theo tinh thần của An Vi. Đây cũng là lúc ông làm quen với máy vi tính và bắt đầu viết lại những suy tưởng của mình. Từ 1984 đến năm 1989, ông đã viết 4 tác phẩm: Thái Bình Minh Triết tập I, tập II, tập III và Cẩm Nang Triết Việt. Bản thảo điện tử của các tác phẩm này đã được trao cho linh mục Trần Công Nghị cất giữ.

Từ năm 1987 đến năm 1992, ông nghỉ hưu tại trụ sở hưu dưỡng của linh mục Vũ Đình Trác ở Garden Grove. Trong thời gian này, ông đã tập hợp được một số người tha thiết với triết thuyết An Vi và kiên trì trong sứ mạng rao truyền sứ điệp của ông. Sau đó, phong trào An Vi đổi tên thành phong trào Việt Linh và hoạt động rộng khắp tại Hoa Kì. Là người thủ lĩnh của phong trào, sự hành hoạt của ông gần giống như một nhà chính trị nên ông bị hiểu lầm là con người của chính trị. Điều này đã gây biết bao oan khiên và phiền phức cho ông.

Tháng 11/1987, ông được mời tham dự Hội nghị Quốc tế về Khổng học với Thế giới Ngày nay (International Symposium on Confucianism and the Modern World) tại Đài Bắc, Đài Loan. Hội nghị này quy tụ 400 học giả khắp thế giới. Lần này, ông đã trình bày trước hội nghị một chiều hướng bao quát và rộng rãi hơn trong tham luận “Đạo Trường chung cho Đông Nam Á châu” (A Tao-Field for East Asia). Sau đó, ông còn tham dự Hội nghị Triết học (The World Congress of Philosophy) tại Brighton, Anh Quốc – năm 1988. Hội nghị Nghiên cứu Triết học Á Châu và Bắc Phi lần thứ XXXIII (The XXXIII International Conference on Asian and North African Studies) tại Toronto, Canada –  năm 1990. Trong những lần đi dự hội nghị ở xa, ông đều nói với các môn đệ rằng: “Thầy phải đi để nói cho thế giới biết con người, tư duy và đạo sống cao đẹp của dân tộc Việt Nam”.

Năm 1992 đến năm 1997, vì tai biến mạch não, vì tuổi già sức yếu, ông đã về hưu dưỡng tại Dòng Đồng Công, Carthage Missouri, Hoa Kì. Ngày 23/03/1997, ông về cõi vĩnh hằng, để lại nhiều thương tiếc trong lòng môn đệ, cũng như giới học thuật trong và ngoài nước.

Triết gia Kim Định đã đi trọn một cuộc hành trình đơn độc để khai phá và sáng tạo nên một triết thuyết vô tiền khoáng hậu và dâng hiến báu vật này cho dân tộc Việt Nam. Theo thiển ý, phần đóng góp quan trọng nhất của triết gia Kim Định là Đạo Nho siêu việt. Phần Đạo Nho của người Lạc Việt và Nguồn gốc dân tộc Việt Nam là một đóng góp nhỏ hơn, mang tính gợi mở, cũng như một là giả thuyết để làm việc.

Triết thuyết của Kim Định có rất nhiều ưu điểm nhưng cũng có không ít nhược điểm. Do phải làm việc một mình, phần đông là suy tưởng nên ông dễ sa đà vào những giây phút xuất thần mà quên đi thực tại. Cũng vì nhiều khi ông xem nhẹ, không chịu minh chứng hoặc xem xét những điều mình nói ra bằng phương pháp lịch sử, khảo cổ học, điền dã… mà chỉ vào những suy luận chủ quan, do vậy nhiều nhà nghiên cứu đã cho ông là một người cảm tính, mơ mộng và thiếu thực tế. Nhưng thử hỏi, nếu một người thiếu đi sự mơ mộng thì làm sao có thể trở thành triết gia? Triết gia là một người luôn luôn bay bổng trong vòm trời suy tưởng và mộng mơ. Vậy mơ mộng tuy là nhược điểm nhưng cũng chính là ưu điểm của ông, và nhờ vậy ông mới có được sự linh cảm và cái nhìn thấu thị hiếm có của một thiên tài. Triết gia chân chính bao giờ cũng đi trước thời đại của mình một thời gian cả mấy mươi năm.

Toàn bộ tác phẩm của Kim Định là một khu rừng bát ngát, mênh mông, làm cho người đọc dễ bị lạc lối. Độc giả của ông thường bị nạn cây che mất rừng, chỉ nhận thấy điều tiểu tiết mà quên đi sự vĩ đại. Nhiều học giả cũng  mắc phải cố tật này khi đọc sách của ông, họ không thấy được sự đóng góp to lớn của ông cho triết lí và văn hóa Việt Nam, mà chỉ biết phê bình những tiểu tiết của ông một cách gay gắt. Kim Định là triết gia chứ không phải là một người làm khoa học về xã hội và nhân văn, hay như một học giả chỉ biết dựa vào sách vở. Vì thế, hậu sinh cần phải rút tinh hoa từ triết thuyết của ông và bỏ đi những gì là sai sót và không cần thiết. Xem ra nền triết lí An Vi của ông vẫn còn có thể đáp ứng được phần nào cho nhu cầu của thời đại, có thể nâng cao tâm thức dân tộc, giúp đào luyện mẫu người mà quốc gia đang cần.

Đã có nhà sử học ác ý, đem ông ra chê bai, mỉa mai và làm trò diễu cợt; với cặp mắt cú vọ của một nhà duy sử, họ chỉ lăm lăm nhìn vào những điểm sơ suất trong công trình của ông để làm công việc bắt bẻ. Thật là cám cảnh cho ông! Thử hỏi các vị ấy có thể gây nên nguồn cảm hứng, chuyển hóa được tâm thức của độc giả, để sau khi đọc sách của mình, độc giả sẽ có một đời sống bình an, thánh thiện và tốt đẹp hơn? Lại có học giả được thừa hưởng cả một gia sản đồ sộ về nguồn gốc văn hóa và dân tộc Việt Nam và những ý tưởng mới mẻ của ông nhưng cũng kiếm cách chê bai ông cho bằng được, họ đã từng phát biểu:“còn mang nhiều chất cảm tính – cực đoan hoặc là chưa tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh”. Thiên hạ đã mang ơn ông nhưng lại “trả ơn” ông bằng cách như vậy. Thật là bất công!

Nhiều người Việt Nam chưa phân biệt được giữa triết gia và triết học gia, giữa hiền triết và giáo sư triết học, giữa nhà tư tưởng và học giả. Vì hiểu rõ tình trạng này, ông đã từng nói trong Vũ Trụ Nhân Linh và Văn Lang Vũ Bộ rằng, đó là cái cảnh “cá đối bằng đầu”. Dưới đây là một trong những lời than phiền của ông: “Và nếu có ngày gặp may, nảy nòi ra một triết gia tả nhậm thì cũng bị lấn át do bao tiếng om sòm của cảnh cá đối bằng đầu không sao trỗi lên được”(18)(Triết gia tả nhậm là triết gia đứng về phía kẻ yếu, đứng về phía nhân dân – chú thích của người viết bài này).

Ông Châu Hải Kỳ đã từng đem triết gia Kim Định xếp chung một chiếu với học giả Nguyễn Hiến Lê và học giả Giản Chi (Nguyễn Hiến Lê từng viết chung với Giản Chi một số đầu sách: Đại Cương Triết Học Trung QuốcTuân TửHàn Phi Tử). Không những vậy, ông còn đem hai tác phẩm cùng viết về đề tài Khổng giáo của Kim Định và của Nguyễn Hiến Lê ra để so sánh:

“… Dĩ nhiên tôi không phủ nhận điều này là các tác giả Kim Định cũng như các ông Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê đều phát huy cổ học Á Đông, triết lý Nho giáo, và nội dung của giáo sư Kim Định có nhiều chủ trương rất mới mẻ, chẳng hạn trong Việt Lý Tố Nguyên… Những ý kiến của tân kỳ của ông có cái ma lực lôi cuốn độc giả nhất là giới sinh viên học sinh rất mạnh. Song bình tĩnh mà xét về Nho giáo ông phát huy có phần quá đà: ông xưng tụng hơi nhiều, ong bốc có lẽ thái quá. Có thể đọc nói cuốn nào, về vấn đề gì, người đọc cũng thấy ngay rằng tác giả phát biểu say mê – nói thẳng ra là chủ quan về một phía. Chỉ sự kiện về mức quá đà đó cũng đủ minh chứng rằng tác phẩm của ông mất tính Đông phương rồi.

Trái với tác giả Kim Định, ông Nguyễn Hiến Lê có thái độ quân bình hơn. Ông không giống giọng điệu của một nhà nho ba hoa, một người “militant”. Huống chi tư tưởng và nếp sống dân tộc Việt chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền triết học Trung Hoa; lối viết của ông trở thành một nghệ thuật sống hơn là một học thuyết cao xa như giáo sư Kim Định, cho nên người đọc lĩnh hội không mấy khó ong. Nếu đức Vạn thế sư biểu sống lại và đọc tác phẩm của hai tác giả viết về mình, tôi chắc rằng Ngài sẽ thích tác giả Nhà giáo họ Khổng hơn”(19)

Mặc dù người viết bài này rất khâm phục nhân cách cũng như sở học của học giả Nguyễn Hiến Lê, nhưng không vì như vậy mà chấp nhận cách nhận xét trên. Học giả Nguyễn Hiến Lê là một nhà nghiên cứu về sử học, cổ học và triết học Trung Hoa chứ không phải là một nhà tư tưởng; còn giáo sư Kim Định là một triết gia, một nhà tư tưởng thực thụ. Ông Châu Hải Kỳ chưa phân biệt được sự khác nhau giữa Nho học và Triết lí Nho giáo, giữa Nho gia và Hiền triết. Học giả Nguyễn Hiến Lê viết về Nho học, giáo sư Kim Định viết về Nho triết thì làm sao mà đem so sánh với nhau; nếu đem hai vị đó ra so sánh với nhau thì có khác gì việc đem xe ô tô và máy bay phản lực ra để tranh cao thấp. Ngoài ra, ông Châu Hải Kỳ còn nói bóng gió rằng, triết gia Kim Định là một nhà nho ba hoa. Như thế thì thật là quá đáng!

Nhà thơ Hoài Khanh, giám đốc NXB Ca Dao đã từng trân trọng giới thiệu những tác phẩm của giáo sư Kim Định như sau:

“Đây là tác phẩm của một Tâm Hồn Thánh Trí. Các bạn có thể không đọc sách của CA DAO nhưng các bạn không thể nào không đọc sách của Bậc Hiền Triết KIM ĐỊNH.”(20)

Lời ca tụng của nhà thơ Hoài Khanh dành cho giáo sư Kim Định thật là xác đáng. Trước năm 1975, những nhà xuất bản tên tuổi ở miền Nam như: Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao, Kinh Thi, Nguồn Sáng… đều xuất bản sách vì mục đích văn hóa chứ không  phải vì mục đích lợi nhuận; vì thế đây không phải là một cách quảng cáo để bán sách.

Khi triết gia Kim Định còn sinh thời, đã có nguyên cả một cuốn sách xuyên tạc triết thuyết của ông, người ta ong những lời lẽ nặng nề để chà đạp, mắng chửi và cho ông là một tay hoạt đầu chính trị. Tôi tin chắc rằng, những  người này chưa đọc trọn vẹn một tác phẩm, chứ đừng nói chi đến cả một rừng sách mênh mông của ông. Nếu họ chịu khó học hỏi và hiểu sâu sắc nền triết lí An Vi của ông thì họ không thể làm một công việc liều lĩnh và cẩu thả đến như vậy. Tôi không thể nào hiểu nổi tại sao họ thực hiện ý đồ thâm độc này? Phải chăng ông là một linh mục Công giáo? Dân tộc Việt Nam đã kinh qua rất nhiều khổ đau vì chia rẽ, sao có người còn muốn gieo rắc hận thù, nghi ngờ và đố kị?

Và nếu ai còn nghĩ ông là tay sai của ngoại bang và mục đích làm văn hóa của ông là phá hoại đất nước thì hãy đọc những dòng sau đây của ông:

“Bây giờ chúng ta ghé thăm tôn giáo; ngoài sự mất tín nhiệm với con người, chúng ta còn nhận thấy một tình trạng trầm trọng hơn nhiều đó là sự mất lòng tự tín. Trong hội nghị các tôn giáo tại Genève năm rồi (Congrès des églises à Genève  9/1970) có lời tuyên bố là các tôn giáo đã hết uy tín và thẩm quyền dạy luân lý. Nói thế là vì mọi nền luân lý trước đây đều mang tính cách thế tục, không còn thể hợp nữa cho con người đang bước vào giai đoạn toàn-cầu với tư tưởng liên-hành-tinh, nên đang cần một nền luân lý phổ biến hơn, phóng khoáng hơn. Vì thế mà ở rất nhiều nơi người ta nhận thấy mọc lên từng trăm từng ngàn những nhóm nhỏ (under group) đứng độc lập bên ngoài mọi giáo quyền, với hi vọng có thể hướng tới linh thiêng hiệu nghiệm hơn, mặc dầu chưa biết dạng thức như thế nào nhưng ít ra không bị ràng buộc trong những nghi thức đã trở thành trống rỗng và máy móc. Hiện nay hướng đi chung của họ là muốn quay về phụng sự con người một cách chân thực. Vì thế trong sự đánh giá, người ta càng ngày càng căn cứ trên khả năng cũng như uy tín cá nhân nhiều hơn là trên chức nghiệp hay quyền uy như trước. Đấy cũng là dấu hiệu con người đang từ giã những hành ngơi bên ngoài để đi sâu vào nội tâm. Vì thế ta có thể nói nét đặc trưng của thế giới hiện đại không phải là sa lầy vào vật chất như các nền luân lý quen nói, nhưng là giũ bỏ các giá trị cũ để đi tìm những gì vươn lên. Còn những giá trị tinh thần cũ bất cứ thuộc tôn giáo, triết học hay văn hóa, luân lý, quyền uy nào đều không được chấp nhận nữa” (21)

Để đem lại danh dự và xóa đi ngộ nhận về triết gia Kim Định, sau khi ông bị người ta cố ý chụp mũ, vu khống và bôi nhọ, tôi – một kẻ vô danh tiểu tốt – đành phải trích dẫn dài dòng như trên. Liệu bề trên của ông trong giáo hội Công giáo có vừa ý khi nghe ông phát biểu một cách quyết liệt như vậy không?  Cách nói quá thẳng thắn và trung thực của ông mang lại lợi ích gì cho giáo hội Công giáo và những thế lực chính trị? Đó là câu hỏi mà những người đã hiểu sai về ông phải tự trả lời.

Trích đoạn trên đây cho thấy triết gia Kim Định đã có một sự nhạy cảm và cái nhìn thấu thị vượt thời gian. Đã và đang có những cá nhân riêng lẻ, những nhóm người, những dòng tu thực hiện những giá trị tinh thần cao quý và hành động vì mục đích đem lại hòa bình, thịnh vượng cho thế giới. Có nhiều và rất nhiều những con người như vậy, họ là: Krishnamurti, Nisargadatta Maharaj, Mẹ Teresa, Triết gia Kim Định, Thích Nhất Hạnh, Dalai Lama, Eckhart Tolle…

Trong cuộc đời dạy học và trước tác của ông, ông không chỉ giảng dạy kiến thức mà còn trao truyền một Đạo Sống cho biết bao thế hệ môn sinh. Nhiều người chỉ biết ông qua tác phẩm nhưng vô cùng biết ơn ông, bởi vì ông đã khai tâm và dẫn dắt họ về với suối nguồn của Đạo học Á Đông, mà cũng chính là trở về với cội nguồn tâm linh sâu thẳm trong tâm hồn mà từ lâu họ đã lãng quên trong đời sống thường nhật. Ông là một bậc thánh trí, một bậc hiền triết, một chiến sĩ dấn thân trọn đời vì văn hóa dân tộc. Ông là bó đuốc thắp sáng trong đêm trường hoang vu của Việt Nam và nhân loại. Ông là vị Khổng Tử của nước Việt Nam trong bối cảnh Xuân Thu Chiến Quốc thời hiện đại.

Ông đã sống chết với những điều mình cưu mang gần bốn mươi năm trời, từ lúc còn ở trong nước, đi ra nước ngoài, cho đến khi nhắm mắt xuôi tay trong bệnh tật và cô đơn. Ông ra đi khi đã được nhìn thấy được học thuyết An Vi của mình bén rễ trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại. Những suy tư và đề nghị của ông chắc chắn sẽ được hậu thế đánh giá cao.

Bậc hiền triết Kim Định chính là điềm triệu, là một con chim quý Lạc Việt báo hiệu thời đại Tâm Linh sẽ đến. Tất cả biến cố về chính trị, kinh tế sẽ qua đi, tương lai thuộc về ông và những con người mang sứ mệnh khơi lại nguồn suối tâm linh của Việt tộc.

Ngày 14/7/2012, nhân 15 năm ngày mất của Kim Định, Trung tâm Minh Triết phối hợp với Trung tâm Lý Học Đông Phương đã tổ chức buổi tọa đàm tưởng niệm về ông tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Đây là lần đầu tiên, một buổi tọa đàm có quy mô lớn về triết gia Lương Kim Định được tổ chức tại Việt Nam. Cuối cùng, học giới trong nước cũng chấp nhận và đánh giá lại di sản đồ sộ và quý báu về triết học và văn hóa Việt Nam của ông. Tuy mới chỉ là một tín hiệu nhỏ, nhưng hi vọng đây là một bước khởi đầu tốt đẹp. Để đánh giá lại toàn bộ di sản của ông, có lẽ phải cần một thời gian khá dài, với sự góp sức của những người yêu mến minh triết và có nhiều tâm huyết với văn hóa dân tộc.

……………………………………………………………………..

1) Cửa Khổng – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn, 1965, Lời tựa.

(2) Cửa Khổng – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn, 1965, trang 104.

(3) Nhân Bản – Kin Định – Ấn Quán Thanh Bình, Sài Gòn 1965, trang 144.

(4) Định Hướng Văn Học – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn 1969, trang 83-84.

(5) Bìa 3 cuốn Chữ Thời – Kin Định – Ấn Quán Thanh Bình, Sài Gòn 1967.

(6) Những Dị Biệt Của Hai Nền Triết Lý Đông Tây – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn 1969, trang 95-96

(7) Những Dị Biệt Của Hai Nền Triết Lý Đông Tây – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn 1969, trang 128.

(8) Tâm Tư – Kim Định – Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn 1970, Lời tựa.

(9) Căn bản triết lý trong văn hóa Việt Nam – Kim Định – Ra Khơi, Sài Gòn 1967, trang 153-154

(10) Dị Biệt Của Hai Nền Triết Lý Đông Tây – Kim Định – Ra Khơi Nhân Ái, Sài Gòn 1969, Lời bạt

(11) Việt Lý Tố Nguyên – Kim Định – NXB An Tiêm, Sài Gòn 1970, trang bìa 4.

(12) Bìa 4 của Dịch Kinh Linh Thể – Kim Định – Tủ Sách Ra Khơi, Sài Gòn 1970.

(13) Lạc Thư Minh Triết – Kim Định – NXB Nguồn Sáng, Sài Gòn 1971, trang 134.

(14) Loa Thành Đồ Thuyết – Kim Định – Ấn Quán Thanh Bình, Sài Gòn 1973, trang 153.

(15) Hiến chương Giáo dục – Kim Định – NXB An Tiêm, Sài Gòn 1970, trang bìa 4.

(17) Văn Lang Vũ Bộ – Kim Định – NXB H.T Kelton, USA, trang 236.

(18) Văn Lang Vũ Bộ – Kim Định – NXB H.T Kelton, USA, trang 87.

(19) Nguyễn Hiến Lê – Cuộc đời và Tác phẩm – Châu Hải Kỳ – NXB Văn Học, Hà Nội 1993, trang 227-228.

(20) Ca Khúc Của Quán Cà Phê Buồn – Carson McCullers, Hoài Khanh dịch – NBX Ca Dao, Sài Gòn 1969, trang cuối sách.

(21) Loa Thành Đồ Thuyết – Kim Định – Ấn Quán Thanh Bình, Sài Gòn 1973, trang 180-181.

 

PHẦN TRÍCH DẪN NHỮNG BÀI VIẾT VỀ TRIẾT GIA KIM ĐỊNH

Trong Hồi Kí Nguyễn Hiến Lê – NXB Văn Học, 1993 (trang 546), học giả Nguyễn Hiến Lê đã viết về triết gia Kim Định:

“Thật lạ lùng! Người đề cao Khổng tử nhất ở nước ta từ trước tới nay lại là một tín đồ Công giáo, giáo sư Kim Định, ông đã viết khoảng chục cuốn về đạo Khổng đưa ra nhiều ý táo bạo, mà ông chưa kịp sắp đặt lại thành hệ thống. Ông muốn cải tạo xã hội, cải tạo cả thế giới nữa, cho rằng nếu canh tân đạo Khổng thì những tư tưởng tự do và bình sản của Khổng có thể cứu nhân loại khỏi nhiều thảm họa. Theo ông, hiểu Khổng là vượt Khổng cho nên tránh các vấn đề siêu hình mà ông lại có lúc ong nhãn quan siêu hình để nghiên cứu Khổng.”

Khi nhận định về địa vị của Giáo sư Kim Định trên lộ trình tư tưởng Việt Nho, cố học giả linh mục Vũ Đình Trác đã viết như sau:

“Nhờ công phu mở đường trở về Triết Ðông của Linh Mục Giáo Sư Bửu Dưỡng và Linh Mục Giáo Sư Nguyễn Văn Thích cũng như tâm huyết của Giáo Sư Nguyễn Ðăng Thục, chương trình Triết Học Ðông Phương được khai giảng tại Ðại Học Văn Khoa Saigon năm 1958. Sẵn đường trở về Ðông Phương, Linh Mục Giáo Sư Kim Ðịnh tiện đường, đơn thương độc mã, xông lên một bước táo bạo, mở đường đi vào Triết Lâm Việt Nam.

Trong suốt 16 năm trời, tại giảng đường Ðại Học Văn Khoa Saigon, Giáo Sư Kim Ðịnh đã ảnh hưởng sâu rộng cho cả một thế hệ thanh niên và sinh viên. Mặc dầu bao chống đối, Giáo Sư Kim Ðịnh đã im lặng xây dựng một hệ thống Việt Nho khá trung thực và hấp dẫn. Không ai có thể chối cãi công phu xây dựng và ảnh hưởng sâu rộng của ông trong lãnh vực văn hóa dân tộc. Từ Ðại Học Văn Khoa Saigon, Giáo Sư Kim Ðịnh mở rộng mặt trận tới các đại học khác: đại học Ðà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Ðức, Thành Nhân và An Giang. Chính trong giai đoạn này Giáo Sư Kim Ðịnh đã sáng lập ra chủ thuyết An Vi và Việt Nho.

Nhờ công khai thác và biên khảo, sáng tác của Giáo Sư Kim Ðịnh, những bậc thức giả khắp nơi đã suy tôn Giáo Sư là Triết Gia Việt Nam. Ảnh hưởng Việt Triết và Việt Nho của Giáo Sư Kim Ðịnh đã gây ý thức cho người Việt khắp nơi nhìn lại thực tại văn hóa của mình. Các đồ đệ của Giáo Sư Kim Ðịnh đã đáp ứng nguyện vọng của Thầy để khai thác và phổ biến Việt Lý của Thầy qua tổ chức An Việt. Các nhóm An Việt được thành lập khắp nơi: San Jose, Orange, Houston, Louisiana, Washington, D.C., Philadelphia, Seattle và tại Canada, Úc Châu, Anh, Pháp, Ðức, v.v… AN VI đã như luồng gió dân tộc bùng lên khắp nơi có người Việt định cư. Các nhóm này coi Triết gia Kim Định như bậc Đại Sư mà họ tôn làm Tổ: TỔ SƯ AN VI. Ảnh hưởng của của Triết gia không những thế, mà con lan rộng tới các học giả, triết gia ngoại quốc: Âu Mỹ và khối Viễn Đông.”
Trong báo Ngày Nay số 121, Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, đại học Georgetown, Washington D.C viết về Giáo sư Kim Ðịnh:

“Trong nỗ lực đi tìm một con đường Việt Tộc, nhân chủ, tự do, thì chúng ta phải kể ở hàng đầu công trình đồ sộ của Giáo Sư Kim Ðịnh. Ở đâu ông cũng thế, không phải sang Mỹ ông mới tìm “về nguồn”. Việc làm của ông trong tình cảnh mất mát vô biên, chẳng qua cũng chỉ là tiếp nối công việc của ông đã bắt đầu khi còn ở trong nước, khi còn ở miền Nam tự do. Từ 1962 tới 1975, ông đã hoàn tất được 23 cuốn triết học, tương đương với khoảng 7,000 trang một mảng tư tưởng mà không dễ mấy triết gia có thể so sánh được. Sự độc đáo ở nơi ông cũng đã là một chuyện quá rõ – dầu ta có đồng ý với ông hay không, thì ta cũng không thể phủ nhận được tính cách độc đáo của tư tưởng ông.

Ngày nay tham vọng cuối cùng của Giáo Sư Kim Ðịnh là sẽ dựng xong một bộ Kinh Việt (hiểu theo nghĩa “bible”) cho dân tộc ta. Ðể thực hiện tham vọng này, ông đã cho in lại hoặc đang in năm cuốn thuộc bộ “Ngũ kinh khải triết”, đó là: Hùng Việt Sử Ca, Kinh Hùng Khải Triết, Pho Tượng Ðẹp Nhất Của Việt Tộc, Sứ Ðiệp Trống Ðồng, Văn Lang Vũ Bộ (số lớn do nhà in H.T. Kelton xuất bản). Nếu ai hỏi tôi rằng có nên đọc hay không, thì tôi xin thưa ngay: dứt khoát là có. Tại sao – Tại vì nếu ta không nhất thiết đồng ý với hết cả ý kiến của ông, ta cũng sẽ được làm thân với một trong những bộ óc triết lý lớn nhất nếu không của nhân loại thì cũng của Việt Nam. Tôi nói điều này trong sự cân nhắc, cũng không khác gì câu tôi sẽ trả lời cho người nào hỏi: có nên đọc Platon hay Aristote không? Ðã nhất thiết gì ta đồng ý với Platon trong tác phẩm La république, nhưng ai không đọc tác phẩm đó, thì chắc chắn là mất đi một mảng hiểu biết rộng lớn về triết học Tây Phương. Cũng như vậy, ai không đọc Giáo Sư Kim Ðịnh cũng không sao, ông sẽ từ tốn mà “an vi”, để chờ một ngày kia người nọ sẽ tỉnh mộng mà trông thấy hết cả cái mất mát của mình.”
Trong bộ Tự điển Bách khoa Văn Học xuất bản năm 2005, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Viện Văn Học Quốc nhận định về triết gia Kim Định:

“Vậy thì những cuốn sách nói trên đã đến lúc cho phép chúng ta xác nhận lại thật rõ ràng một số đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Viêm Việt, một “bản quyền” vô giá của dân tộc Việt Nam mà người Trung Hoa giai đoạn du mục chưa thể có:

  1. Đây là nền văn hóa nông nghiệp gắn liền với thiên nhiên, thời tiết, mùa màng, là sự hợp nhất giữa người và trời (thiên nhân hợp nhất), suy rộng ra là lòng yêu hòa bình, ghét chiến tranh, đặt văn lên trên võ, đặt nhân trị và lễ trị lên trên pháp trị.
    2. Là nền văn hóa bắt nguồn từ cuộc sống định cư nên sớm định hình tình cảm yêu nhà yêu nước, trong khi du mục là cuộc sống lang thang nên chỉ biết có người đứng đầu. Vì thế giữa hai vế kết hợp về sau của đạo Nho là “trung quân ái quốc” thì trung quân vốn của Hoa tộc, ái quốc vốn của Việt tộc.
  2. Là nền văn hóa đã trường kỳ chống lại sự xâm lăng của văn hóa du mục nên cũng là nền văn hóa sớm có sự cố kết về mặt tinh thần dân tộc; dân tộc tính là một tiêu chí định tính quan trọng của văn minh Lạc Việt và văn minh viễn Đông.
    4. Là nền văn hóa mềm mại uyển chuyển (Nho = nhu), biết coi trọng âm hơn dương, coi trọng nữ giới hơn nam giới hay ít ra cũng thừa nhận nữ giới có những quyền, những ưu thế hơn nam giới – “lệnh ông không bằng cồng bà”.
    5. Là nền văn hóa trọng “chiêu” hơn “mục”, trọng “tả” hơn “hữu”, tức là hướng về phương Đông và phương Nam, về nữ giới, về số lẻ, về hiền triết, về văn học nghệ thuật, về dân chúng, tóm lại hướng tới thuận hòa.
    6. Là nền văn hóa sinh thành trên cơ sở cố kết đơn vị làng, coi làng là một thứ liên bang uyển chuyển mở rộng phần tự trị trong xã hội phong kiến, nơi đề cao vai trò người mẹ và người trưởng thượng, nơi hình thành những lễ tục dân gian cùng trường tồn bên cạnh luật lệnh của nhà nước như một kiểu văn hóa lưỡng nghi; làng cũng là tổ hợp của dân chúng đứng ra đương đầu với nhà vua khi cần thiết – “phép vua thua lệ làng”.
    7. Là nền văn hóa tôn trọng thể chế gia đình như một giải pháp trung hòa giữa hai thái cực: muốn xóa bỏ tự do cá nhân vì lợi ích của công quyền và ngược lại, muốn phớt lờ mọi nghĩa vụ xã hội để đạt được tự do cá nhân. Tôn trọng thể chế gia đình khiến con người sống có tình và có lý, có quyền lợi và có nghĩa vụ, có trung và có hiếu.
    Ý kiến của Kim Định thường được trình bày dưới dạng những giả thuyết làm việc mà không phải là những định đề áp đặt hoặc coi như đã giải quyết trọn vẹn. Mặt khác, vào những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ trước, ông đã sớm có sự nhạy cảm trong việc tiếp nhận các phương pháp mới của triết học Âu Tây, chẳng hạn cấu trúc luận, phân tâm học, cả học thuyết tương đối của Albert Einstein nên có được cách lập luận đa dạng, với những thao tác không một chiều, cứng nhắc, giúp độc giả soi nhìn đối tượng từ nhiều phía, và làm cho luận thuyết của mình có sức hấp dẫn. Nhưng những điều ông đề xuất cũng như các luận điểm được ông chốt lại có những chỗ không tránh khỏi cực đoan, do không đủ cứ liệu, kể cả do thiên kiến, đã gây ra những phản ứng sôi nổi trong học giới, khiến nhiều người tin theo và cũng nhiều người bác bỏ. Mặc dầu thế, nhìn chung không thể không thừa nhận đấy là những tìm tòi đầy tâm huyết và có sức gợi mở không nhỏ, về một hệ thống vấn đề không kém quan trọng đang là ẩn số cần được tiếp tục giải đáp trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn của Việt Nam”.
    Giáo sư Trần Văn Đoàn – Đại học Quốc gia Đài Loan chia sẻ cảm tưởng:

“Trong gần một thập niên từ 1983-1992, người ta có thể nói cụ Kim Ðịnh là làm việc như một siêu nhân. Gần chục tác phẩm liên tiếp ra đời. Hội An Việt được thành lập, khêu lên tinh thần ái quốc, yêu chuộng sự khôn ngoan cũng như suy tầm về nguồn dân tộc, giúp những bạn trẻ và trí thức cảm thấy hãnh diện về dân tộc Việt mình nơi quê họ đất người.

Từ các tiểu bang bên Mỹ, cho tới các nước tại Âu Châu, từ Gia Nã Ðại cho tới Âu Châu, nơi đâu cũng có phong trào Hùng Việt hấp dẫn cả ngàn người. Thật là một hiện tượng chưa từng thấy.

Trong những năm nay, cụ thường gửi tặng tôi những tác phẩm mới cũng như những tin tức về phong trào Hùng Việt và Hội An Việt của cụ. Tôi cũng nhận thấy, có nhiều tác phẩm đã thấm nhuần ảnh hưởng của cụ (những bài của Linh mục Trần Cao Tường, các anh Vương Kỳ Sơn, vân vân). Có thể nói mà không sợ lịch sử chê bai, cụ Kim Ðịnh có lẽ là một người trí thức Việt duy nhất có thể gây lên một ảnh hưởng như vậy.
Như tôi từng khẳng định công lao của cụ tại Viện Triết học của Trung tâm Khoa học Xã hội, Hà Nội (18/01/1997), Kim Ðịnh vượt xa Trần Ðức Thảo trong lãnh vực suy tư và trong tinh thần ái quốc, cũng như sự nhiệt tâm của kẻ sỹ.”
Thái Bình Minh Triết , một tác phẩm của triết gia Kim Định đã được linh mục Trần Công Nghị xuất bản ngay sau khi ông mất. Linh mục Trần Công Nghị đã tưởng niệm về ông:

“Kim Định ôm hoài bão cánh chim Việt một ngày sẽ tung bay lên thượng tầng trời cao xanh, nơi đó đàn Chim Việt với nền Triết Việt Minh Triết là nguồn khởi thủy của một triết lý sâu xa, tiềm ong sắc thái An Vi. Kim Định vẫn miệt mài khám phá, đi tìm và không ngừng minh chứng cho ta thấy được nguồn gốc oai ong của Đàn Chim Việt.”

Trong Hành Trình Tìm Lại Cội Nguồn – NXB Văn Học, 2008 (trang 55),Hà Văn Thùy đã ca ngợi ông bằng những lời rất trân trọng:

 

“Hơn 30 năm qua cho tới nay, nhiều người cho rằng, cái yếu nhất của học thuyết Kim Định là thiếu cơ sở khoa học. Nhưng tôi trộm nghĩ, chính sự thiếu cơ sở khoa học này đã thể hiện dự cảm thiên tài của ông. Lẽ thường thì từ bột gột nên hồ nhưng có thể nói Kim Định đã từ nước lã mà gột nên hồ. Trong thời gian của ông, tri thức nhân loại về nguồn gốc văn hóa Á Đông còn rất thiếu thốn, cuốn sách quan trọng Eden in the East chưa ra đời, nguồn gốc và sự di cư của người hiện đại Homo sapiens chưa được xác định. Nhất là con đường Nam Á trong cuộc hành trình định mệnh về phương Đông chưa được phát hiện. Lịch sử Á Đông còn phủ trong vòng bao trùm của lý thuyết A. Aymonier cho rằng người Á Đông là từ phía Tây đi tới và chủ nghĩa Hoa tâm vẫn bao trùm trí tuệ nhân loại… Nhưng bằng dự cảm thiên tài của mình , ông đã phát hiện ra văn hóa Việt Nho cội nguồn của người Việt và bằng con đường “phiêu lưu” giải mã những truyền thuyết, huyền sử, ông đã tìm ra cốt lõi An Vi của đạo Việt! Là người tiên phong trong học thuật và tư tưởng, ông đã vượt qua những trí tuệ sáng láng nhất của người Việt và nhân loại. Chính vì thế, ông trở thành người độc hành lạc ong.”

 

Hồ Phú Hùng

Nguồn: http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/kim-dinh-cuoc-doi-va-tu-tuong

 

 

Các cuộc luận chiến trí thức phương Tây

 đằng sau các tư tưởng của Kim Định

  LE MINH KHAI
Thứ năm, 16 Tháng 7 2015 21:27

Khi đọc các tác phẩm của triết gia Nam Việt Nam Kim Định, một trong những điểm mà tôi thấy hấp dẫn là việc nhận ra được mức độ mà những ý tưởng của Kim Định đã được định hình bởi nhận thức của ông về một số cuộc luận chiếntrí thức chính ở phương Tây trong thế kỷ XIX và XX.

Ở mức độ rộng lớn nhất là cuộc luận chiến về các tộc người và các nền văn hóa “nguyên thủy”. Đây là một cuộc luận chiến nổi lên với sự phát triển của nhân học văn hóa như là một lĩnh vực nghiên cứu trong thế kỷ XIX.

Nhà nhân học người Anh Edward B. Tyler, “cha đẻ” của nhân học văn hóa, trong các tác phẩm chẳng hạn như Văn hóa Nguyên thủy (Primitive Culture1871) đã cho rằng các nền văn hóa phát triển từ một trạng thái sơ khai đến một trạng thái phức tạp hơn.

Do đó, Tyler cảm thấy rằng con người tất cả về cơ bản đều như nhau. Những khác biệt đã tồn tại chỉ đơn giản là kết quả của những mức độ tiến hóa xã hộikhác nhau.

Trong những năm đầu thế kỷ XX, học giả người Pháp Lucien Lévy-Bruhl đưa ra một lý lẽ tranh luận. Trong công trình Les fonctions mentales dans les sociétés inférieures (Các chức năng tinh thần trong các xã hội thấp kém – 1910) của ông, (bản dịch sang tiếng Anh là How Natives Think (1926), Người bản địa suy nghĩnhư thế nào), Lévy-Bruhl cho rằng vấn đề không phải là tất cả mọi người đều giống nhau, mà có những khác biệt chủ yếu giữa người phương Tây và các tộc người “nguyên thủy”.

Người “nguyên thủy” là người “thần bí”. Họ không phân biệt giữa hiện thực và siêu nhiên. Họ không hiểu khái niệm nhân quả, vv… còn người phương Tây, ngược lại, là “hợp lý”.

Sau đó, trong những năm 1960, Claude Lévi-Strauss đã đóng góp thêm vàocuộc luận chiến này, trong các tác phẩm như La Pensée Sauvage (Tư duy Hoang dã, 1962), được dịch ra tiếng Anh là The Savage Mind (1966) bằng cách lập luận  rằng nếu chúng ta xem xét cấu trúc của ý nghĩa đằng sau những lối tư duy của các tộc người từ khắp nơi trên thế giới, thì chúng ta có thể thấy rằng mọi người về cơ bản đều giống nhau ở cung cách suy nghĩ.

Lévi-Strauss công nhận có rất nhiều loại tư duy khác nhau, mà ông gọi là tư duythần thoại và tư duy khoa học, nhưng ông lập luận rằng chúng đều hợp lý như nhau và loại tư duy này (tư duy thần thoại) đã không tiếp tục phát triển thànhloại tư duy kia (tư duy khoa học). Đó chỉ đơn giản là hai cách nhận thức và tư duy về hiện thực có giá trị ngang nhau.
Cuộc luận chiến ấy trong các lĩnh vực nhân học và xã hội học về  cách thức tư duy của người nguyên thủy / người bản địa / người hoang dã đã giao thoa với tri thức học thuật trong lĩnh vực Trung Quốc học.

 

Lévy-Bruhl được cho là người đầu tiên quan tâm đến chủ đề về “tâm tính” khác nhau của con người sau khi người bạn của ông, nhà Hán học Édouard Chavannes, cung cấp cho ông một số bản dịch các tác phẩm của Trung Quốc cổ đại. Rõ ràng là Lévy-Bruhl nhận thấy các tác phẩm này không thể hiểu được và điều đó dường như đã khiến ông bắt tay vào việc nghiên cứu cách thức tư duy của các dân tộc khác nhau.

Trong khi đó, Edouard Chavannes là một học giả người Pháp đầu tiên vào năm 1901 đã đi đến một lý thuyết cho rằng người Việt ở Việt Nam là những người đã di cư từ Trung Quốc về phương nam, sau đó lý thuyết này được Leonard Aurousseau làm cho trở nên nổi tiếng hơn nhiều vào năm 1923, và chính lý thuyết ấy cũng đóng phần vào các tác phẩm của Kim Định.

Trong mọi trường hợp, nhà Hán học quan trọng nhất đối với Kim Định là Marcel Granet. Granet thực sự vừa là một nhà Hán học lại vừa là một nhà xã hội học, và tri thức học thuật của ông đã đóng góp cho cả hai lĩnh vực này.

Trong công trình La Pensée Chinoise (Tư tưởng Trung Quốc, năm 1934) của ông, chúng ta có thể thấy rõ ảnh hưởng của Lévy-Bruhl. Đối với Granet, cungcách suy nghĩ của người Trung Quốc chắc chắn khác với cung cách suy nghĩ của người phương Tây.

Để chứng minh cho vấn đề này, Granet đã cố gắng giải thích chi tiết các khái niệm thể hiện cách thức suy nghĩ của người Trung Quốc, và ở đây ông đã thảo luận nhiều vấn đề mà sau này Kim Định đã tập trung vào, chẳng hạn như khái niệm âm dương và ngũ hành.

Hệt như Claude Lévi-Strauss đã lập luận về lĩnh vực nhân học trong những năm 1950 và 1960 cho rằng người phương Tây và không phải phương Tây không phải tất cả đều khác nhau, do đó đã đưa ra một cuộc thảo luận tương tự xuất hiện vào thời gian đó về lĩnh vực Trung Quốc học.

Một người đã tham gia rất sâu vào cuộc thảo luận đó là nhà Hán học người Anh Joseph Needham. Vào những năm 1950, Needham bắt đầu nghiên cứu và xuất bản một loạt sách (khối lượng thực sự khổng lồ) được gọi là Khoa học và văn minh ở Trung Quốc – Science and Civilization in China.

Trong những cuốn sách này, Needham và nhiều cộng tác viên của mình, năm này qua năm khác, đã tìm cách xem xét tri ​​thức Trung Quốc từ bằng phương pháp so sánh để hiểu “khoa học” Trung Quốc. Các công trình của Granet là bước khởi đầu quan trọng cho Needham, nhưng theo thời gian, ông đã vượt khỏi các đặc trưng mô tả của Granet để đi đến phát hiện ra nhiều điểm tương đồng giữa tư tưởng Trung Quốc và phương Tây.

Do đó Needham đã tìm cách cung cấp cho độc giả của mình một cái nhìn tích cực vào nền văn minh Trung Quốc hơn là họ đã nhận thức được.

Một nhà Hán học khác cũng đã làm như vậy là Herrlee Creel. Là một giáo sư Đại học Chicago, Creel đã xuất bản các công trình về Trung Quốc trong cùngthời gian này và đã đem đến một cái nhìn rất tích cực về vùng đất đó.

Trong những năm đầu thế kỷ XX, các học giả phương Tây tin rằng các giai đoạn sớm nhất của lịch sử Trung Quốc, chẳng hạn như thời nhà Thương, là huyền thoại, nhưng Creel đã giới thiệu người đọc các phát hiện khảo cổ học về các giáp cốt văn ở An Dương để ủng hộ cho giá trị lịch sử của giai đoạn đó.

Ông cũng đã viết một cuốn tiểu sử rất đồng cảm về Khổng Tử trong đó ông chorằng Khổng Tử là một nhà cải cách dân chủ. . .

Sau đó là Wolfram Eberhard. Eberhard là một nhà Hán học người Đức đã phá vỡ huyền thoại cho rằng về phương diện lịch sử, Trung Quốc là một xã hội đồng nhất bằng cách chứng minh Trung Quốc luôn luôn là một xã hội đa luân lý (vì vậy mở ra cánh cửa cho Kim Định để lập luận rằng luân lý Việt quan trọng hơn so với luân lý Hoa, hoặc Trung Quốc ).

Kim Định trích dẫn tất cả các học giả đó trong các tác phẩm của ông. Và trong khi ông không nhất thiết đi theo những ý tưởng chính xác của họ (chẳng hạnEberhard không cho rằng người Việt ở Trung Quốc trước người Hoa, như lý lẽ của Kim Định), tôi vẫn sẽ cho rằng không thể hiểu được ý tưởng của Kim Định nếu không hiểu được các học giả mà ông đã đọc và suy nghĩ về các ý tưởng của họ.

Kim Định đọc các tác phẩm của Marcel Granet, Claude Lévi-Strauss, Joseph Needham và Wolfram Eberhard, nhưng để hiểu những gì mà các học giả này đã viết, chúng ta cũng cần phải hiểu về những gì mà các học giả như Edward Tyler và Lucien Lévy-Bruhl đã viết.

Điều này có thể khiến chúng ta hiểu “cái tinh thần” đằng sau tất cả những gì mà các học giả này đã làm, và suy nghĩ về “cái tinh thần” đằng sau những gì Kim Định đã tìm cách làm.


Hà Hữu Nga 
dịch

Nguồn: Le Minh Khai, The Western Intellectual Debates Behind Kim Định’s Ideas, đăng trong trang mạnghttps://leminhkhai.wordpress.com/2015/07/03/the-western-intellectual-debates-behind-kim-dinhs-ideas/

 

 

Sử gia lớn nhất (không được biết đến/không được thừa nhận) của Việt Nam

  LE MINH KHAI
Thứ hai, 13 Tháng 7 2015 16:08

Sử gia Kim Định (1914 – 1997)

Tôi dành mùa hè này đọc các tác phẩm của Kim Định, một linh mục Công giáo, triết gia và sửgia đã viết rất nhiều trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 ở miền Nam Việt Nam. Khi đọc những gì ông đã viết, không cần phải đắn đo để kết luận rằng cho đến nay, Kim Định là sử gia táo bạo nhất và giàu trí tưởng tượng nhất mà Việt Nam đã từng biết đến.

Nói một cách đơn giản, Kim Định là một thiên tài. Tuy nhiên, theo như tôi được biết, không ai có thể nhìn thấy thiên tài trong những gì ông đã làm, nhưng đồng thời, giống như nhiều thiên tài, ông đã đẩy ý tưởng của mình đi quá xa.

Kết quả là ngày nay nhiều người vừa không biết Kim Định là ai, lại vừa bỏ qua tri thức học thuật của ông. Điều này, tôi cho là một sai lầm khủng khiếp.

Tôi xin giải thích lý do tại sao tôi lại nghĩ như vậy.

Trước khi đọc các công trình của ông, tôi chỉ nghe nói về Kim Định và đã chỉ đọc những gì người khác viết về ông. Từ thông tin này, hình ảnh mà tôi tạo ra về Kim Định là một nhân vật siêu dân tộc chủ nghĩa, với một ý tưởng điên rồ là Ngũ kinh của Nho giáo suy cho cùng lànhững sáng tạo của người Việt, và kết quả là, về cơ bản tất cả mọi thứ mà hiện giờ chúng ta nghĩ là văn hóa “Trung Quốc” thì thuở ban đầu lại thực sự là văn hóa “Việt”.

Đúng là Kim Định đã thực sự lập luận như vậy. Tuy nhiên, nẻo đường trí thức dẫn ông đến kết luận này là một nẻo đường đi qua một số ý tưởng học thuật lớn nhất của thế kỷ XX, và đó chính là lý do tại sao tôi lại nói rằng Kim Định được cho là sử gia Việt Nam quan trọng nhất của mọi thời đại (không phải là “giỏi nhất” mà “quan trọng nhất”).

Hành trình trí tuệ của Kim Định đã dẫn ông đi qua các tác phẩm của hai học giả Pháp nổi tiếng, Marcel Granet và Claude Lévi-Strauss.

Marcel Granet vừa là một nhà Hán học và một nhà xã hội học. Ông là một trong những học giả đầu tiên tìm những cách diễn giải xã hội học cho những gì ông phát hiện ra trong các văn bản cổ điển của Trung Quốc. Trong quá trình đó, ông đã cách mạng hóa những cách thức mà mọi người (cả bên trong và bên ngoài Trung Quốc) xem xét về thời cổ đại Trung Quốc.

Nổi tiếng nhất, Granet đã tái diễn giải Kinh Thi (詩經). Trong nhiều thế kỷ các học giả ở Trung Quốc đã giải thích các bài trong Kinh Thi bằng khuôn khổ đạo đức. Tuy nhiên, Granet đã xem chúng như là các sản phẩm của các nghi thức và lễ hội địa phương không liên quan gì đến các diễn giải đạo đức của truyền thống học thuật ở Trung Quốc cả.

Tuy nhiên, có lẽ quan trọng hơn đối với các công trình của Kim Định là, cuốn La Pensée Chinoise Tư tưởng Trung Quốc của Granet. Trong công trình dày dặn và uyên bác này, những gì Granet tìm cách chứng minh chính là các khái niệm trong các văn bản kinh điển Trung Hoa cổ đại chẳng hạn như học thuyết nhị nguyên Âm dương, và thuật số luận Ngũ hành, …vv không chỉ là các khái niệm về những con số, mà là các “biểu tượng” (hoặc những gì mà sau này các nhà cấu trúc luận gọi là các “dấu hiệu”) cho các cấu hình của xã hội, và nếu nhìn vào các hiện tượng như thân tộc và hôn nhân, chúng ta có thể nhận ra bằng chứng của các khái niệm theocách mà các hiện tượng ấy đã được sắp xếp và thực hiện.

Trong khi công trình của Granet với tư cách là một nhà Hán học đã bắt đầu bị chỉ trích bởi các học giả như Bernhard Karlgren vì không phân biệt giữa các văn bản của các giai đoạn khác nhau, thì công trình của ông với tư cách là một nhà khoa học xã hội lại ảnh hưởng đến côngtrình của các học giả như Claude Lévi-Strauss, nhân vật chính trong lĩnh vực nhân học cấu trúc.

Những ý tưởng của Lévi-Strauss xuất hiện chống lại các ý tưởng của các học giả như Bronisław Malinowski. Malinowski cho rằng chúng ta có thể hiểu được các xã hội bằng cách quan sát và giải thích những gì mà chúng ta nhìn thấy.

Mặt khác, Lévi-Strauss lại lập luận rằng những gì mà chúng ta nhìn thấy trong các xã hội trên toàn thế giới là khác nhau. Tuy nhiên, nếu chúng ta di chuyển bên dưới bề mặt của những gìmà chúng ta nhìn thấy và tìm cách hiểu được “cấu trúc” của những ý tưởng thông tin về những gì con người thực hiện, thì chúng ta có thể có được một sự hiểu biết khác, và cuối cùng mới có thể nhận ra được là có những tương đồng trên toàn cầu.

Khi Kim Định đọc các tác phẩm của Claude Lévi-Strauss vào những năm 1960, ông cảm thấy rằng Marcel Granet đã khải lộ những gì là cái “cấu trúc” bên dưới lớp bề mặt ấy – đó chính là âm dương và ngũ hành, …vv.

Hơn thế nữa, ông cảm thấy rằng tất cả những tri thức này đều là “Việt.” Đó không hề là những thứ của “Trung Quốc” sau đó được “nhập khẩu” vào Việt Nam. Đây là những gì mà tri thức học thuật của ông tìm cách chứng minh.

Vậy thì, tại sao Kim Định lại quan trọng đến chừng ấy? Trước hết, ông là sử gia duy nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại, mà tôi biết, là người thực sự đa ngành. Ý tưởng cho rằng học thuật cần phải đa ngành là một ý tưởng được đề cập rất nhiều, nhưng để có phương tiện đa ngành thì học giả phải có được các thông tin “cập nhật” nhất trong các lĩnh vực khác nhau. Đây là điều mà người ta không thấy có trong học thuật Việt Nam. Thay vào đó, nhiều học giả chỉ đơn giản là “chọn” thông tin từ các lĩnh vực khác nhau sao cho phù hợp với một ý tưởng (và thường là một ý tưởng dân tộc chủ nghĩa) mà họ đã có.

Mặt khác, Kim Định luôn luôn cập nhật tri thức học thuật trong các lĩnh vực khác nhau. Ông hiểu Saussure (ngôn ngữ học), Lévi-Strauss (nhân học), Granet, Creel, Needham (tất cả đều là các nhà Hán học), Foucault (triết học), …vv. Và ông đã xây dựng ý tưởng của mình dựa trên ý tưởng của các học giả khác. Đó là những gì thực sự có nghĩa là đa ngành.

Nhưng vấn đề với các tác phẩm của Kim Định là gì? Cũng giống như các vấn đề với học thuật của  Marcel Granet, Kim Định đã không phân biệt giữa các văn bản. Đối với ông, những gì được viết trong Sử ký Tư Mã Thiên hoặc trong Kinh Thi (cả hai đều có niên đại TCN) cũng đềugiống với những gì đã được viết trong Lĩnh Nam chích quái của thế kỷ thứ mười lăm, …vv. Các thông tin trong tất cả các văn bản đó đều có thể được sử dụng để thể hiện sự tồn tại của một “cấu trúc” nghĩa bên dưới các văn bản này. Điều đó thực sự là có vấn đề.

Tuy nhiên, các nhà nhân học như Lévi-Strauss, đã xây dựng ý tưởng của mình bằng cách xem xét các xã hội (“nguyên thủy”) đương đại, mà ở đó các thông tin có được đã không hề được thu thập từ những giai đoạn khác nhau. Điều này, tôi cho rằng, đã làm cho các lập luận như vậy có sức thuyết phục hơn.

Học thuật tiến triển khi các học giả sử dụng lý thuyết để đưa ra các khẳng định táo bạo. Các khẳng định như vậy đôi khi “quá” táo bạo, khiến cho các học giả khác thách thức các khẳng định ấy và xác lập một nhận thức hợp lý hơn. Tuy nhiên, kết quả vẫn là học thuật luôn tiến vềphía trước.

Nói cách khác, sẽ thật tốt khi có được học giả đưa ra các tuyên bố táo bạo (như Edward Said, Benedict Anderson, James Scott, vv), bởi vì nó khiến cho các học giả khác thách thức và sửachữa những tuyên bố đó. Tuy nhiên, để có được điều đó, các học giả thách thức các tuyên bố táo bạo kia, về mặt lý thuyết, cũng phải được cập nhật thông tin như các học giả đã xuất trình các tuyên bố táo bạo vậy.

Đó là điều đã không bao giờ xảy ra với Kim Định. Kim Định đưa ra một số tuyên bố táo bạo trong các thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, làm cho nhận thức của chúng ta về lịch sử Việt Nam tiến (quá xa) về phía trước, nhưng kể từ thời điểm đó đã không hề có ai có được một sự hiểu biết lý thuyết như Kim Định, vì vậy đã không hề có một thách thức hiệu quả nào, hoặcbất cứ sự điều chỉnh nào, về các ý tưởng của ông.

Kết quả là Kim Định hoặc đã bị bỏ qua, bị nhạo báng, hoặc ý tưởng của ông đã bị hiểu lầm.

Đó là một điều đáng hổ thẹn, bởi vì, tôi cho rằng, Kim Định là sử gia Việt Nam duy nhất trong thời hiện đại, đã thực sự đến được với một cách diễn giải mới mẻ về lịch sử sớm của ngườiViệt.

Để gạt bỏ ý tưởng của ông, trước tiên người ta phải có thể gia nhập vào các ý tưởng đó. Cho đến nay, chưa ai thực hiện được điều đó. Một khi ai đó bắt tay thực hiện, thì người đó sẽ thấy rằng có thể có một cái gì đó trong các ý tưởng của ông là sâu sắc (cũng hệt như các học giả vẫn tìm thấy những vấn đề sâu sắc trong các tác phẩm của Marcel Granet), và đó chính là điềusẽ khiến cho tri thức học thuật lịch sử tiến về phía trước. Cho đến thời điểm đó…

Người dịch: Hà Hữu Nga

Nguồn: Le Minh Khai, Vietam’s Greatest (unknown/unrecognized) Historian, đăng trong trang mạng https://leminhkhai.wordpress.com/2015/06/19/vietams-greatest-unknownunrecognized-historian/

 

 

 

GS. Kim Định – Người khởi nguồn học thuyết Việt Triết

  Trong số ít ỏi những cây đại thụ nghiên cứu về lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20, GS. Lương Kim Định (thường biết tới với bút danh Kim Định) nổi lên như một hiện tượng lạ. Khác lạ ở cách thức tiếp cận và xử lý thông tin. Đặc biệt là những suy tưởng, những giả định của ông vượt trước thời đại, mà đến những năm gần đây một phần những suy tưởng ấy đã được khoa học hiện đại chứng minh. Sáng ngày 14-7, tại Trung tâm Văn hóa Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội) đã diễn ra buổi tọa đàm tưởng niệm 15 năm ngày mất của cố triết gia Lương Kim Định (1997 – 2012). Buổi tọa đàm do Trung tâm Minh triết phối hợp với Trung tâm Lý học Đông Phương tổ chức. Tham dự tọa đàm có nhiều nhà khoa học tên tuổi. Có lẽ đây là lần đầu tiên ở Việt Nam tổ chức tọa đàm về GS. Kim Định.

Hoa văn trên trống đồng Đông Sơn được GS. Kim Định nghiên cứu rất kỹ GS. Kim Định sinh ngày 15-6-1915 tại Nam Định và mất ngày 25-3-1997. Ông đã để lại một di sản văn hóa đồ sộ với 46 đầu sách về những lĩnh vực triết học, văn hóa, đặc biệt là cổ sử Việt Nam… Xuất thân là một linh mục, GS. Kim Định từng dạy triết học trong nước, sau đó, ông sang Pháp, Mỹ du học. Tuy sống ở nước ngoài trong một thời gian dài nhưng ông vẫn miệt mài nghiên cứu cổ sử Việt. GS. Kim Định có công lớn trong việc xây dựng nền tảng cho triết học Việt Nam và là người đề xướng thuyết Việt triết (Việt Nho) với những trụ cột triết lý: An vi, nhân bản, thái hòa, bình sản. Nhiều học giả trong nước tiếp nhận hướng nghiên cứu và phương pháp luận của ông đã có những công trình học thuật có giá trị.

  1. Kim Định đã chứng minh cho thế giới này hiểu rằng, nền triết lý Việt đã có từ rất lâu đời, thậm chí có trước cả Trung Hoa. Bằng suy luận khoa học, ông đã khẳng định tổ tiên người Việt là người Viêm Việt. Suốt một thời kỳ dài trong lịch sử, dân tộc Viêm Việt sinh sống ở vùng châu thổ ong Dương Tử và đã làm nên văn hóa Việt Nho. Nền văn hóa Việt Nho lấy nhu thuận là cốt lõi, đại biểu cho văn minh nông nghiệp. Sau này, bộ tộc du mục người Hoa đã tràn từ phương Bắc xuống đàn áp, đẩy người Viêm Việt xuống phía Nam. Người Viêm Việt di tản đến khắp vùng Đông Nam Á rồi phân hóa thành nhiều chủng tộc khác nhau. Luận thuyết này 45 năm sau đã được các nhà khoa học khảo cổ và nghiên cứu ADN khẳng định.
  2. Kim Định Một trong những nghiên cứu sâu sắc nhất của GS. Kim Định là về trống đồng của dân tộc Việt. Tinh hoa văn hóa của người Việt đều dồn tụ vào những hình ảnh trên mặt trống. Từ những chiếc trống đồng hoen gỉ, ông nhìn thấy cả lịch sử Việt, văn hóa Việt, triết lý Việt trên chiếc trống đó. Từ hình ảnh trên trống đồng, có thể thấy cuộc sống sinh động của người Việt xưa. Người Việt có hàng trăm điệu hò, điệu múa, nào là múa sinh tiền, múa sắc búa, múa chai, múa trống, múa đèn, múa dậm, múa bông lau… Rồi các trò đua thuyền, kéo chữ, đánh cờ người, rối nước, rối cạn… Đó là những cuộc vui bất tận tỏa ra khắp cả nước. Chỉ có một thứ văn hóa, ấy là văn hóa toàn dân, không hề có chiến tranh tôn giáo hay ý thức hệ. Hơn 50 sắc dân thiểu số với những tín ngưỡng rất khác nhau nhưng vẫn sống bên nhau suốt bao nhiêu ngàn năm hạnh phúc. Đó chính là nét đặc sắc của nền văn minh Lạc Việt, nền văn minh được khắc họa cụ thể trên mặt trống đồng. Mặt trống đồng chính là bộ sử hạnh phúc loài người. Đó có lẽ cũng là khát vọng mà người Việt hướng đến. Triết lý Việt chính là sự thăng hoa tột cùng của hạnh phúc loài người.

Tại tọa đàm, GS.TS Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh: Trong lịch sử nghiên cứu văn hóa Việt Nam, phải đến Lương Kim Định mới trở thành một hiện tượng. Ông là người đầu tiên và cho đến nay là duy nhất viết nhiều sách nhất về văn hóa Việt Nam. GS. TS Trần Ngọc Thêm cũng trích dẫn một nhận định rất đáng suy nghĩ của GS. Trần ở Đài Loan: “Kim Định vượt xa Trần Đức Thảo trong lĩnh vực suy tư và trong tinh thần ái quốc, cũng như sự nhiệt tâm của kẻ sĩ”. Tiếc rằng, nhiều công trình có giá trị của GS. Kim Định cho đến nay được xuất bản rất ít và ít được phổ biến ở Việt Nam.

Huy Văn

Nguồn:https://baomoi.com/gs-kim-dinh-nguoi-khoi-nguon-hoc-thuyet-viet-triet/c/8894559.epi

 

 

Người cả đời tìm triết lý trên trống đồng Đông Sơn

 (VTC News) – Mới đây, bên ấm trà đậm hương Việt, các nhà nghiên cứu cổ sử Việt Nam, trầm ngâm kể về một người, mà họ tôn vinh là triết gia bị quên lãng của nước Việt. Người ấy dành cả cuộc đời nghiên cứu cổ sử Việt, viết tới 46 đầu sách, chỉ để khẳng định rằng, nền minh triết Việt đã có từ mấy ngàn năm trước, trước cả người Trung Hoa. Chuyện này thật lạ!
Người Việt là một phần của cái nôi nhân loại

Người ấy là giáo sư Lương Kim Định, người trọn đời chỉ làm một việc, ấy là giải mã những thông điệp của người xưa, để tuyên bố với thế giới rằng, người Việt không phải là một dân tộc nhỏ bé, nước Việt cũng là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại.

Cố GS. Lương Kim Định sinh ra và lớn lên ở Nam Định. Từng giảng dạy ở Việt Nam. Sau này, ông du học sáng Pháp, rồi Mỹ. Mấy chục năm sống ở nước ngoài, nhưng ông vẫn miệt mài nghiên cứu cổ sử Việt. Ông đã chứng minh cho thế giới này hiểu rằng, nền triết lý Việt đã có từ rất lâu đời, thậm chí có trước cả Trung Hoa.

Bằng những nghiên cứu của mình, ông khẳng định tổ tiên người Việt chính là người Viêm Việt. Dân tộc này vốn ngự trị ở giữa vùng châu thổ ong Dương Tử và đã làm nên văn hóa Việt Nho, một nền văn hóa tinh thần, lấy nhu thuận là cốt lõi, đại biểu cho văn minh nông nghiệp.

Sau này, bộ tộc du mục, ấy là người Hoa, đã tràn từ phương Bắc xuống. Họ mang tinh thần võ biền, đàn áp, đẩy người Viêm Việt xuống phía Nam. Người Viêm Việt di tản đến khắp vùng Đông Nam Á rồi phân hóa thành nhiều chủng tộc khác nhau.

Luận thuyết này được ông đưa ra từ rất lâu rồi, nhưng chẳng ai ong đếm xỉa. 45 năm sau khi ra đời luận thuyết của ông, khi khoa học hiện đại phát triển, ngành khảo cổ nghiên cứu qua nhiễm sắc thể (ADN), đã chứng minh rằng, dân cư Đông Nam Á xuất phát từ một chúng tộc khác người Trung Nguyên.

Heo bản đồ di dân qua nhiễm sắc thể, được các nhà khoa học thế giới công nhận, thì con người hiện đại Homo Sapien, đã xuất phá từ châu Phi đi khắp thế giới. Một nhánh người đi qua Tây Tạng, một nhánh qua Bắc Mông Cổ, gặp nhau ở châu thổ Hoàng Hà, lập ra nền văn minh Trung Nguyên, khởi thủy nền văn hóa Trung Hoa bây giờ.

Một nhánh di chuyển theo ngả Ấn Độ, dừng lại ở châu thổ ong Hồng, và lập ra nền văn hóa Hòa Bình (20.000 – 5.000 năm TCN). Từ đây, họ di cư lên phương Bắc, đến tận ong Dương Tử, ra tận biển, định cư ở các đảo Đài Loan, Nam Dương, Mã Lai.

Lương Kim Định nhìn thấy Việt triết sống động trong đời sống hàng ngày của dân tộc. Nó là những nếp sống, những tư tưởng nằm trong tiềm thức được thấm nhuần qua tiếng nói, ca dao, lời ru, phong tục. Việt triết được thể hiện và phát huy qua những bước chân âm thầm của các bà mẹ Việt, những người bố Việt trên những nẻo đường mòn của dân tộc trong bao thế hệ.

Theo nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy, từ những phát hiện này, cùng hàng ngàn chứng cứ mà ông nêu trong các cuốn sách của mình, ông khẳng định rằng, người Việt đã xây dựng một nền văn hóa nông nghiệp Việt nhân bản và minh triết, mà ông gọi là Việt Nho.

Người Hoa đã học rồi thể chế thành kinh điển, đồng thời cũng làm sa đọa Việt Nho theo tư tưởng của văn minh du mục Mông Cổ.

Từ chứng lý rất mong manh, GS Lương Kim Định cho rằng, chính người Việt là chủ nhân của kinh Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc… Không những thế, tiếng Trung Hoa và cả chữ vuông Hán ngữ cũng là của người Việt!

Đề xuất của GS. Lương Kim Định quả đã gây chấn động, như sấm giữa trời quang khiến những đầu óc yếu đuối hoảng hốt và chống trả ông quyết liệt.

Triết Việt trên trống đồng

GS. Lương Kim Định gần như cả cuộc đời nghiên cứu chiếc trống đồng của người Việt. Tinh hoa văn hóa của người Việt đều dồn tụ vào những hình ảnh trên mặt trống. Ông nhìn thấy cả lịch sử Việt, văn hóa Việt, triết lý Việt trên chiếc trống đó.

Theo GS. Định, những hình người có cánh trên mặt trống đồng đại diện cho Mẹ Tiên, còn hình ảnh vòng ngoài vận hành ở tang trống chính là Rồng Cha. Mẹ Tiên và Rồng cha hợp nhau biểu thị đất trời hòa hợp, là thứ minh triết uyên bác xa xưa.

 

Nét dọc tang trống là Trời, nét ngang là mặt trống là Đất. Hai thứ ấy làm nên thực thể gọi là nhạc khí vũ trụ.

Vũ trụ thể hiện kích thước bao la của trời với đất. Cuộc hòa âm này chiếu giải lên toàn thân trống, tả lại một xã hội hạnh phúc tưng bừng đang ca múa gồm cả trời (mặt trời), đất (thuyền rồng, các con vật) và cả người.

GS. Lương Kim Định đã giành cả cuốn sách chỉ để mô tả triết lý Việt trên chiếc trống đồng. Đã có vô vàn phát hiện thú vị của ông. Thậm chí, những con số cũng đều theo quy ước bí ẩn của văn hóa cổ.

Mặt trời ở giữa mặt trống thay cho trời làm trung tâm lan tỏa sức sống. Mặt trời tỏa ra 14 tia sáng. Rồi đến các vòng ngoài đều chia ra 2 bên chẵn lẻ.

Bên chẵn thì trên nóc nhà có 2 con chim, 6 người, đàn chim 4 cặp. Bên lẻ thì trên nóc nhà có 1 con chim, đoàn người 7, đàn chim 3 cặp. Vòng ngoài cùng chia làm 4 chỉ 4 chiếc hoa quỳ 9 cánh: 4×9=36, cũng có thể chỉ 4 phương. Nhưng mặt trời ở giữa, còn gợi ra suy nghĩ là bông hoa.

 

Hoa quỳ lại có 9 cánh. Số 9 là tiên thiên của huyền sử, dân Lạc Việt lấy số 9 làm quan trọng, nhân với 2 thành 18. 18 chim to, 18 chim nhỏ. Số 18 là huyền số như: 18 ngàn năm Bàn Cổ, 18 đời Hùng Vương, 18 thước cao của ngựa Thánh Gióng…

Từ những hình ảnh trên trống đồng, đã hiện ra đời thực. Trên các đình làng Việt Nam thể hiện rõ nhất triết lý đó. Ðình là cái nhà có ba tầng kiểu nhà sàn: Nóc có chim đậu chỉ trời, người ở sàn giữa, bên dưới là đất. Trong đình cũng có 3 tầng như vậy, tức gồm cả tế tự cho trời, hành chính chia ruộng đất, còn người thì vui sống đình đám chơi xuân.

Điều đặc biệt, là cả trên trống đồng và đình làng Việt, đều thể hiện vạn vật giao hòa, trời và người là một, chẳng có gì tục với thiêng mà phải riêng rẽ. Cuộc sống đời thường luôn tưng bừng đình đám, chấp nhận mọi sinh thú ở đời.

Từ hình ảnh trên trống đồng, có thể thấy cuộc sống sinh động của người Việt xưa. Người Việt có hàng trăm điệu hò, điệu múa, nào là múa sinh tiền, múa sắc búa, múa chai, múa trống, múa đèn, múa dậm, múa bông lau…

Rồi các trò đua thuyền, kéo chữ, đánh cờ người, rối nước, rối cạn… Đó là những cuộc vui bất tận tỏa ra khắp cả nước. Chỉ có một thứ văn hóa, ấy là văn hóa toàn dân, không hề có chiến tranh tôn giáo hay ý thức hệ. Hơn 50 sắc dân thiểu số với những tín ngưỡng rất khác nhau, mà vẫn sống bên nhau suốt bao nhiêu ngàn năm hạnh phúc.

Đó chính là nét đặc sắc của nền văn minh Lạc Việt, nền văn minh được khắc họa cụ thể trên mặt trống đồng. Mặt trống đồng chính là bộ sử hạnh phúc loài người. Đó có lẽ cũng là khát vọng mà người Việt hướng đến. Triết lý Việt chính là sự thăng hoa tột cùng của hạnh phúc loài người.

 

» Bãi đá cổ Sapa là cuốn Kinh Dịch của người Việt? » Lời tiên tri của tổ tiên trên bãi đá cổ Sapa? » Người giải mã bí ẩn bãi đá cổ Sapa » VN: Phát hiện bãi đá cổ chưa từng thấy giữa rừng thẳm » Phóng sự ảnh: Bãi đá cổ Sapa sắp… biến mất » Tận mắt bãi đá có hình khắc chưa từng biết đến (kỳ 2) » Người đọc thông viết thạo chữ Việt cổ! » Chữ Việt cổ – chữ của nền văn minh rực rỡ?


Dương An Phát
Nguồn: https://vtc.vn/nguoi-ca-doi-tim-triet-ly-tren-trong-dong-dong-son-d84812.html

————————————————–

 

NHỮNG SAI LẦM NGỘ NHẬN VỀ CỐ TRIẾT GIA KIM ĐỊNH

 

  Lê Việt Thường 

 

Chúng ta thường nghe câu :”Thiên Tài thường Cô Ðơn”. Lý do là vì THIÊN TÀI (gồm những nhà TƯ TƯỞNG LỚN, những người có sức SÁNG TẠO PHONG PHÚ trong nhiều lãnh vực khác nhau) thường ÐI TRƯỚC người đương thời hàng năm, hàng chục, hàng trăm năm..Hậu quả là thường xẩy ra những điều SAI LẦM, NGỘ NHẬN xoay quanh cuộc đời, tác phẩm của họ. Và số lượng của những điều Sai Lầm, Ngộ Nhận có lẽ có TỶ LỆ THUẬN với sự LỚN LAO của Thiên Tài. Hiện tượng trên bắt nguồn từ sự Hiểu Lầm, Ngộ Nhận THỰC SỰ, nhưng cũng có thể đến từ sự ÁC Ý do tính GANH GHÉT, ÐỐ KỴ của những Ðồng Nghiệp hay của những người khác, hoặc do tính ÐIÊU NGOA, GIAN DỐI của những kẻ theo Cơ Hội Chủ Nghĩa định LỢI DỤNG Thiên Tài cho những mưu đồ DANH LỢI không mấy chính đáng của họ!

Cố Triết Gia KIM ÐỊNH không thoát khỏi THÔNG LỆ trên!

  • A) TÍNH KHOA HỌC

Những điều chúng ta thường nghe liên quan đến tính KHOA HỌC trong tác phẩm của Cố Triết Gia.

Tác phẩm của Cố Triết Gia có thiếu tính KHOA HỌC như điều đồn đãi hay không?

Và tính KHOA HỌC là gì ? Từ ngữ này thường khiến chúng ta liên tưởng đến lãnh vực Khoa Học VẬT LÝ với tính KHÁCH QUAN trong công việc QUAN SÁT, đặt GIẢ THUYẾT, ÐỊNH ÐỀ và THÍ NGHIỆM để kiểm soát tính TRUNG THỰC của các dữ kiện được quan sát với ÐỊNH ÐỀ.

Và tính KHÁCH QUAN thường được hiểu là Nỗ Lực của đương sự nhằm QUAN SÁT Sự Kiện, Biến Cố như nó xảy ra, cũng như việc tránh đem THÀNH KIẾN, Ý Kiến CHỦ QUAN của mình vào công việc.

Thật ra, đó chỉ là Thái Ðộ của một nhà Khoa Học LÝ TƯỞNG! Nhưng với các Khoa Học VẬT LÝ, nhờ đặc tính CỤ THỂ, HỮU HÌNH gắn liền với các khoa này, nên người ta cũng đạt được một số Kết Quả, Dữ Kiện có BẰNG CHỨNG, KIỂM SOÁT được.

Tuy nhiên, ngay ở lãnh vực Khoa Học VẬT LÝ, tiêu chuẩn KHÁCH QUAN đã bị đặt thành vấn đề với khoa LƯỢNG TỬ. Lý do là ở bình diện HẠ NGUYÊN TỬ, sự vật được quan sát thay đổi theo vị trị và nhãn quan tức theo CHỦ QUAN của người quan sát, do đó tiêu chuẩn KHÁCH QUAN thông thường đã không áp dụng được ngay ở địa hạt VẬT LÝ LƯỢNG TỬ.

Huống hồ là ở lãnh vực Khoa Học NHÂN VĂN!

Do đó, tiêu chuẩn TỐI HẬU của tính HIỆU LỰC (Validity) của GIẢ THUYẾT KHOA HỌC đối với Cộng Ðồng các Học Giả QUỐC TẾ ngày nay là tính KIÊN ÐỊNH, PHÙ HỢP ( Consistency) của Giả Thuyết Khoa Học nêu trên với tất cả các KHIÁ CẠNH KHÁC của cái KHUNG KHOA HỌC (1)

Tiêu chuẩn KHOA HỌC có tầm QUAN TRỌNG BẬC NHẤT nêu trên của Cộng Ðồng của các nhà Nghiên Cứu QUỐC TẾ ngày nay đã được Cố Triết Gia KIM ÐỊNH áp dụng từ lâu tức ít nhất 40 năm trước đây với khoa HUYỀN SỬ của  Ông qua cụm từ MẠCH LẠC NỘI TẠI (Cohérence Interne). Sau đây là lời giải thích của Cố Triết Gia về phương pháp KHOA HỌC nêu trên áp dụng cho khoa HUYỀN SỬ là một khoa NHÂN VĂN như sau:

“Vậy cần lặn sâu mới tìm ra MẠCH LẠC NỘI TẠI là cái sẽ thay cho sự MINH NHIÊN KHÁCH QUAN, một đặc điểm của Khoa Học THỰC NGHIỆM mà NHÂN VĂN không thể có; nhưng không phải vì vậy mà được quyền muốn nói gì thì nói, làm thế thì những điều nói ra thiếu giá trị. Muốn có giá trị, muốn cho HUYỀN SỬ đạt vinh dự của một nền KHOA HỌC thì phải nắm được MẠCH NGẦM của một nền VĂN HÓA. Vì thế, phải đưa ra QUY LUẬT để tìm ra cái MẠCH LẠC nọ. Thiếu những quy luật đó thì huyền sử chỉ là tán dóc.” (2)

Các QUY LUẬT được đề cập ở trên là hệ thống DỤNG, TỪ, Ý , CƠ mà Cố Triết Gia đã áp dụng vào khoa HUYỀN SỬ của Ông, rất phù hợp với KHUNG KHOA HỌC (Scientific Framework) nằm trong tiêu chuẩn KHOA HỌC tối hậu của cộng đồng các Học Giả Quốc Tế vừa nêu trên.

Phần trình bày trên đây cho thấy là phương pháp HUYỀN SỬ của Cố Triết Gia không những không thiếu tính KHOA HỌC như lời đồn đãi, mà còn đáp ứng những đòi hỏi của các Tiêu Chuẩn MỚI NHẤT của khoa NHÂN VĂN ngày nay! Nhưng có lẽ vì phần lớn những người chỉ trích chỉ căn cứ trên những THÀNH KIẾN về tính KHOA HỌC thường dựa trên các Tiêu Chuẩn của Khoa Học THỰC NGHIỆM nên có lẽ đó là nguyên nhân chính yếu về những NGỘ NHẬN về tính KHOA HỌC của tác phẩm của KIM ÐỊNH.

  • B) TÍNH HÀN LÂM

Một NGỘ NHẬN khác là về tính HÀN LÂM của KIM ÐỊNH. Những ai có may mắn tiếp cận Cố Triết Gia trong thời sinh tiền của Ông có thể thấy những hòm lớn đựng những tài liệu, những tập “Fiches” dày đặc mà Ông ghi chép lại trong suốt cuộc đời, vốn “gia tài” học vấn “khổng lồ” của Ông. Và nếu để ý thì sẽ thấy những lập luận của Ông hầu hết đều có dựa trên các khám phá hay các tài liệu của các Học Giả QUỐC TẾ có tầm vóc trong nhiều lãnh vực nghiên cứu khác nhau.

Nhưng vì sức SÁNG TẠO của Cố Triết Gia quá PHONG PHÚ: hết tác phẩm này đến tác phẩm khác ra đời với một vận tốc có thể gây “chóng mặt” cho ai hằng theo dõi con đường sáng tác của Ông, nên Cố Triết Gia không có nhiều thì giờ soạn một bản THƯ TỊCH đầy đủ về các NGUỒN TRÍCH DẪN.

Tuy nhiên, ở giai đoạn cuối đời, khi cho xuất bản lại tác phẩm “Cửa Khổng” vào năm 1997, Cố Triết Gia đã soạn lại một bản THƯ TỊCH rất đầy đủ của tác phẩm nêu trên và rất đúng tiêu chuẩn HÀN LÂM.

Trong tương lai, chỉ cần một nhóm nhà Nghiên Cứu họp lại đem áp dụng phương cách nêu trên cho các tác phẩm khác của Cố Triết Gia thì ta sẽ có một bản THƯ TỊCH đầy đủ, đúng tiêu chuẩn HÀN LÂM cho toàn bộ tác phẩm KIM ÐỊNH.

  • C) TRIẾT LÝ NHÂN SINH

Không những tác phẩm của KIM ÐỊNH đáp ứng các Tiêu Chuẩn KHOA HỌC ( lẽ dĩ nhiên với một quan niệm ÐÚNG ÐẮN, chứ không phải dựa trên những THÀNH KIẾN sai lầm về tính KHOA HỌC), và HÀN LÂM (nếu có thì giờ hoàn tất các công việc vừa nêu trên), nhưng QUAN TRỌNG hơn cả là tác phẩm còn là CẨM NANG của một nền TRIẾT LÝ NHÂN SINH Chân Thực không chỉ là đối tượng của SUY TƯ, mà còn của CẢM XÚC và SỐNG THỰC.

Do đó những ai có may mắn biết đến Con Người cũng như Tác Phẩm của KIM ÐỊNH khá sớm sủa, rồi dùng tác phẩm như bức CẨM NANG cho đời mình để SỐNG, CHỨNG NGHIỆM, cũng như để ÐÀO SÂU và KHAI TRIỂN bằng vốn KIẾN THỨC thu thập được, bằng KINH NGHIỆM sống thực cũng như bằng THỂ NGHIỆM Tâm Linh thì sẽ có một cuộc sống VIÊN MÃN về phương diện TINH THẦN, VĂN HÓA.

  • D) NGUYÊN NHÂN NGỘ NHẬN

Lý do chính yếu của những NGỘ NHẬN nêu trên có lẽ là vì tác phẩm KIM ÐỊNH như có người nhận xét rất đúng là một “Khu Rừng” VĂN HÓA, nên không khéo thì sẽ đi LẠC ÐƯỜNG!

Nếu ai theo dõi từ đầu con đường Văn Hóa của Cố Triết Gia, thì sẽ nhận thấy các lãnh vực mà Ông nhấn mạnh đến là VĂN HÓA TRIẾT LÝ, chứ không phải LỊCH SỬ KHẢO CỔ. Năm 1970, với “Việt Lý Tố Nguyên”, Ông đưa ra thuyết VIỆT NHO theo nghĩa NHO của người VIỆT như một Giả Thuyết làm việc hầu tạo sự hào hứng trong giới sinh viên và nghiên cứu. Do đó, “Việt Lý Tố Nguyên” được mở đầu bằng những lời lẽ như sau:”Ðây là công trình của một cuộc khảo cổ KHÁC THƯỜNG không dừng ở khảo cổ, ở bác học, nhưng phóng tầm mắt ra bên ngoài, bên trên, bên dưới khảo cổ, lịch sử, bác học”.(3)

Ở chỗ khác, Ông sắp hạng thứ bậc cho Văn Hóa, Lịch Sử và Khảo Cổ như sau: KHẢO CỔ bị sắp hạng chót vì là môn chỉ bàn về những vật BẤT ÐỘNG, trên Khảo Cổ là LỊCH SỬ vì SỐNG ÐỘNG hơn, còn trên Lịch Sử là VĂN HÓA vì TOÀN DIỆN hơn, nhất là TRIẾT LÝ vì môn này giúp đời sống có ÐƯỜNG HƯỚNG. Ở chỗ khác, Ông tuyên bố Triết Thuyết AN VI và VIỆT NHO chiếm cỡ 90 đến 95% trong khi Triết Sử chỉ chiếm nhiều lắm 5 đến 10% trong toàn bộ tác phẩm của Ông, huống hồ là KHẢO CỔ! (4)

Do đó, thật là điều ĐÁNG NGẠC NHIÊN khi có ngưới có lẽ vì mới đọc được một vài tác phẩm của Cố Triết Gia nên lầm tưởng KHẢO CỔ có địa vị Quan Trọng trong tác phẩm của Ông, nên “huyênh hoang” tuyên bố là “nắm” được Tư Tưởng KIM ÐỊNH, trong khi trong thực tế không biết đến ngay thứ tự Ưu Tiên của các lãnh vực trong Tác Phẩm của Cố Triết Gia.

Ngay trong lãnh vực nêu trên, đương sự cũng có vẻ không nắm vững những Từ Ngữ hay Khái Niệm Sơ Ðẳng của lãnh vực Nghiên Cứu, do đó có vẻ là TAY NGANG hơn là Tay Thiện Nghệ!

Lê Việt Thường


CHÚ THÍCH

(1) Encarta, 1995, “Scientific Method”

(2) Kim Định, “Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam”, Dân Chúa, HK, 1982, tr.41

(3) Kim Định, “Việt L‎‎ý Tố Nguyên”, An Tiêm, 2001, trang bìa sau

(4) Kim Định, “Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam”, idem, tr. 37

(ảnh

(ảnh GiadinhNet.vn)

 

TƯỞNG NHỚ TRIẾT GIA KIM ĐỊNH NHÂN KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH

 

 Quang cảnh hội thảo tưởng niệm. Ảnh: Trần Tố Loan


TƯỞNG NIỆM 100 NĂM NGÀY SINH 

CỐ TRIẾT GIA LƯƠNG KIM ĐỊNH (15.06.1915- 15.06.2015)


Ngày 6 tháng 7 vừa qua, Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Minh Triết tổ chức hội thảo tưởng niệm nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của học giả Lương Kim Định (15.06.1915- 15.06.2015). Đông đảo các nhà khoa học, các nhân sĩ trí thức đã tới dự và phát biểu. 

KỶ YẾU hội thảo, được phát đến mỗi đại biểu tham dự gồm các bài sau: 

 

1- Lương Kim Định một gương mặt sĩ phu lớn thế kỷ XX – Nguyễn Khắc Mai 
2- Triết gia Kim Định với Minh triết Việt – Hà Văn Thùy. 
3- Những đóng góp mang tính nền tảng cho văn hoá Việt Nam của  Triết gia Lương Kim Định – Lê An Vi.

4- Lương Kim Định và lời cảnh tỉnh “Đạo mất trước, nước mất sau” – Ngô Sỹ Thuyết
5- Tôi đã gặp học giả Kim Định như thế nào ? – Đỗ Ngọc Thành.
6- Lương Kim Định và Minh Triết về sự sáng khôn – Lê Nguyên Cẩn.

7- Thư Chúc mừng của ông Nguyễn Cảnh Hậu
8- Sử gia lớn nhất (không ai biết đến/không được công nhận) của Việt Nam – Liam Kelley
9- Dấu tích cội nguồn văn minh – Lục Văn.
10- Các tác phẩm của Triết gia Lương Kim Định.

.

 Nhà nghiên cứu Trần Văn Đoàn (Đài Loan) đang phát biểu tại hội thảo. 

Chùm ảnh của Trần Tố Loan

Chúng tôi đăng tải 03 bài của các tác giả Nguyễn Khắc Mai – Hà Văn Thùy và Ngô Sỹ Thuyết (trường hợp có yêu cầu, sẽ đăng thêm các bài khác).

LƯƠNG KIM ĐỊNH MỘT GƯƠNG MẶT SĨ PHU LỚN THẾ KỶ XX

Nguyễn Khắc Mai

Vào ngày 15 tháng 6 năm 1915, tại Làng Trung Thành Nam Định, một người Việt Nam đã ra đời. Như sách Thi thiên trong Kinh Thánh, Quyển III, mục 75, câu 6 viết: ”Vì chẳng phải phương Đông, phương Tây hay là từ phương Nam mà có sự tôn cao đến.” Đó là sự báo trước của Thiên Chúa về một “sự tôn cao đến” với Đất Nước, với nền văn hóa Việt vào thế kỷ XX, một thế kỷ có vị trí lịch sử rất đặc biệt của Việt Nam chúng ta chăng.

Lương Kim Định, suốt đời học triết học, dạy triết học, sống và làm việc hết mình vì một nền Triết Học Việt. 82 tuổi đời, Ông sống trọn trong thế kỷ XX, vừa là con người của thời đại (như tên một tác phẩm văn học Nga “L’héros de notre temps), là chứng nhân của lịch sử, Ông cũng là người của thời đại mới góp công tạo dựng lịch sử văn hóa Việt Nam, và để lại một gia tài văn hóa đồ sộ… 45 tác phẩm, trong đó có 8 quyển chưa in, và 5 quyển đã thất lạc, tập trung đề tài về lĩnh vực triết học.

Nếu lịch sử văn hóa Việt thế kỷ XX ghi dấu nhiều gương mặt nhà văn hóa lớn, thì phần nhiều là văn nhân , thi sĩ, nghệ sĩ. Rất hiếm là gương mặt của nhà khoa học, đặc biệt hiếm là nhà tư tưởng, nhà triết học. Lương Kim Định thuộc lớp của hiếm hoi này. Vì thế Ông là một của quý và hiếm của văn hóa Việt thời hiện đại.

Khác với nhiều người, chủ yếu “thuật nhi bất tác”, Lương Kim Định đã đem lại một đóng góp quý báu và quan trọng, vừa thuật, vừa tác. Có những người như Hoàng Xuân Hãn, như Nguyễn Đăng Thục… họ học một ngành khoa học, kỹ thuật, rồi nửa đời, tựa như người đã leo đến một đỉnh núi, rồi từ đỉnh cao này bước sang một đỉnh núi khác và để lại dấu ấn công tích của mình cho học thuật. Lương Kim Định suốt đời thực hành đúng như sách Đại học của cổ nhân, làm một kẻ quân tử (người trí thức, kẻ sĩ, trau dồi học vấn triết lý “như trác như ma, như thiết như tha” để thuật một nền triết học cổ Việt, lại để từ đó sáng tạo ra những phạm trù mới mẻ cho văn hóa Việt.

Nhiều người cho rằng một cái gốc lớn của văn hóa Việt là của “Tàu”, Lương Kim Định nói ngược lại, mà không hồ đồ chút nào. Ông nói có sách mách có chứng. Điều kỳ lạ là những phát kiến của Ông đã được những khám phá khoa học về sau, càng ngày càng chứng minh sự có lý của những luận điểm mà Ông đã nêu ra. Ông đưa ra luận điểm : Tộc Việt, được gọi là Bách Việt đã tràn ra chiếm ngự một vùng đất đai rộng lớn , sau này đươc gọi là “TÀU” Với cái tên Tsin (Tần) mà châu Âu gọi thành Chine, China, Sino…Chính họ là chủ nhân văn hóa đã đúc nên cái phôi, cái căn cốt, cái nguyên bản (archetype) của Trung Quốc cho đến ngày nay. Chỉ có điều, ông chưa chính xác khi cho rằng tộc Việt này đã từ Hymalaya tràn xuống Đông Nam. Ngày nay nhiều chứng cứ khoa học đã đính chính được điều đó. Thậm chí giới nghiên cứu Trung hoa hiện nay cũng đã phải đính chính nguồn gốc Bắc phương của mình và đã công bố rằng cội nguồn chủng tộc thậm chí cả cái căn cơ văn hóa là cũng từ Lạc Việt. Những dấu vết của văn minh, văn hóa Việt, ngày nay vẫn còn đầy rẫy trong xã hội Trung Hoa. Ông đã rọi một cái nhìn vừa tổng hợp, vừa mới mẻ để khám phá lịch sử Trung hoa, vừa du mục, vừa nông nghiệp. Trong trường kỳ lịch sử Trung hoa quả nhiên cuộc đấu tranh giữa vương đạo và bá đạo, giữa yếu tố văn hóa phương Nam, và văn minh du mục Bắc phương cho đến nay vẫn còn dai dẳng: ”Trác Lộc chí kim vị nhược hưu”. Tương truyền trận chiến Trác Lộc là trận chiến mà Hoàng Đế đánh bại được Xi Vưu (lãnh tụ của các tộc Bách Việt Phương Nam).

Lịch sử cổ đại “Trung hoa”, theo Ông, không phải là lịch sử một nhà nước mà chính là lịch sử của một vùng , một nền văn hóa. Bởi từ xa xưa cho đến Tần, mới có nước Tần, ngày ấy Trung Nguyên chỉ là danh xưng một vùng đất, một vùng văn hóa. Cho đến cuối đời Hán, sử sách còn ghi “đi khắp nơi chẳng thấy đâu là Hán địa (đất Hán). Nghĩa là triều nhà Hán vẫn còn cai quản một vùng đất rất hẹp. Mãi cho đến vài ba trăm năm trước đây thôi vùng đất phía nam Lưỡng Quảng vẫn còn là đất của Đại Việt, của văn minh Đại Việt. Rất nhiều di chỉ văn hóa Lạc Việt được lưu giữ, khám phá ở đây. Giờ đây chỉ riêng khảo cổ học ở vùng đất này đã xác minh phán đoán của Lương Kim Định là đúng đắn. Người Bách Việt, trong đó phần quan trọng là Lạc Việt, chính là chủ nhân đã làm chủ vùng đất rộng lớn từ châu thổ Hoàng Hà, Dương tử, cho đến vùng Việt Đông và Lưỡng Quảng. Vùng đất ấy xưa kia là lãnh thổ của những “ Nước Cổ”, có tên là Văn Lang, Xích Quỷ, Lạc Việt…Chính họ là chủ nhân văn hóa, đã “đúc” nên những cái phôi ban đầu, từ ngôn ngữ, chữ viết, những nghi ngẫu (archetype) là nền móng của những triết lý vũ trụ và nhân sinh, cho đến những “kỳ thư” (kinh sách) của cổ văn hóa…mà ngày nay Trung Hoa đang vinh dự chiếm giữ. Ông đã công phu chứng minh điều mà Khổng Tử từng nhận định. Sức mạnh của phương Nam-vùng Bách Việt là sức mạnh của văn hóa “ôn nhu dĩ giáo, bất báo vô đạo, quân tử cư chi” Công lao của Ông là đã tạo ra những luồng sáng mới soi vào lịch sử Bách Việt. Vì thế có học giả đã cho rằng, Ông là một sử gia vĩ đại (đã bị vô minh, quên lãng).

Ông đề xuất thuật ngữ Việt Nho, khái niệm Việt Nho và xây dựng phạm trù Việt Nho. Chứng minh và khẳng định phạm trù Việt Nho như là Nho nguyên thủy, phân biệt rất rõ với Hán Nho, Tống Nho…sau này, như là một sự tha hóa. Đây là một chỉ báo, hơn nữa là một hướng nghiên cứu học hỏi về văn hóa Việt nói chung và tư tưởng Việt nói riêng. Chính từ khám phá này, sẽ soi rọi cho chúng ta nhìn thấy cái lõi Minh triết Việt trong lịch sử văn hóa Việt cũng như của những nhà văn hóa, tư tưởng Việt.

Từ phạm trù Việt Nho, Ông xây dựng hệ thống triết lý, đặt tên là Triết lý An Vi, với các cột trụ : Thái Hòa, Nhân chủ, Tâm Linh. Ông xây dựng một số phạm trù của phương pháp luận, tư duy để làm cái quy, cái cũ từ đó dò lần từng bước vào cơ cấu đặng tìm ra cái hồn cái lõi của các nghi ngẫu, ngẫu tượng là những archetype. Từ đó khám phá giải thích cơ cấu của Việt lý – những triết lý căn bản của Việt Nho. Những phạm trù “lô gich” để làm như cái quy cái cũ trong tay của Nữ Oa và Phục Hy. Đó là: Dụng, Số, Tượng, Từ, Cơ, Chế. Qua những phạm trù “lô gích đông phương” này, Ông dò tìm cho đến tận những cái phôi của tư tưởng văn hóa Việt. Phạm trù Việt Nho và hệ thống triết lý An vi dàn trải ra trong hơn 40 đầu sách với cả vạn trang in là một cống hiến to lớn, góp vào làm phong phú, sâu sắc cho cấu trúc nền văn hóa Viêt Nam hôm nay.

Ông để lại một gia tài văn hóa đồ sộ. Về những vấn đề cơ bản của Triết học có: Cửa Khổng (Nguyên Nho), Nhân Chủ, Chữ Thời, Dịch kinh linh thể, Cơ cấu Việt Nho, Tinh hoa ngũ điển, Gốc rễ triết Việt, Việt triết nhập môn, Cẩm nang Triết Việt, Những dị biệt Triết lý Đông Tây, Lạc thư Minh triết. Về Lịch sử : Hồn nước với lễ gia tiên, Nguồn gốc văn hóa Việt Nam, Triết lý cái đình, Hùng Việt sử ca, Kinh Hùng khải triết, Sứ điệp trống đồng, Văn lang vũ bộ…Về văn hóa, giáo dục, lối sống :Định hướng văn học, Tâm tư, Vấn đề quốc học, Hiến chương giáo dục, Phong thái An vi, Trùng phùng đạo nội, … Đặc biệt , ông để lại ba đầu sách về triết lý chính trị thế giới, khu vực và Việt Nam: Đạo trường chung cho Đông Á, Hoa kỳ và thế chiến lược toàn cầu, Hưng Việt.

Về phương pháp luận, Ông là người thực hiện được khẩu hiệu rất uyên bác của Đông Kinh Nghĩa Thục :”Á Âu chung lại một lò. Đúc nên nhân cách mới cho là người”. Ông học hỏi đến nơi đến chốn Triết Đông (đặc biệt là Trung Hoa), nghiền ngẫm văn hóa Việt, học hỏi triết Tây từ cổ điển đến hiện đại, đọc kỹ những nhà Trung hoa học hàng đầu của thế giới… Hiếm có nhà nghiên cứu, nhà triết học nào làm được như Ông. Ông dụng công xây dựng bộ công cụ lôgic kiếu Đông phương để áp dụng cơ cấu luận trong khảo sát văn hóa. Ông là người mở đầu, đi trước trong ứng dụng phương pháp tư duy phức hợp, hệ thống để nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, lịch sử. Riêng về huyền sử, ông là người đã đem đến một cảm quan mới, mà tôi gọi là huyền sử học, để cho chúng ta đọc cổ tích , thần thoại nước nhà. Khác với “Tạ chí đại Tràng”, mọi thứ tín ngưỡng đều quy về tục thờ “đá”, ”cây”, ”ác thú”, ”lũ lụt”, ”sấm chớp”… Kim Định rất đề cao giá trị người trong những “Nhân thoại”.

Tôi không thể không nói đến Minh triết. Sau Ngô Thì Nhậm, Kim Định là người đã đem trả lại Minh triết, vốn bị hạ thấp, quên lãng cho văn hóa Việt. Với Kim Định, chúng ta bắt đầu có những tư duy dầy dặn hơn cho phạm trù Minh triết. Và khi chúng ta bắt gặp một kết luận chắc nịch của học giả phương Tây hiện đại: ”Tiếp sau những thất vọng đối với các triết thuyết, ngày nay, Minh triết đang là chủ đề chính của tư duy đương đại”, càng thấy công lao và tính tiền phong triết học của Ông.

Khi tưởng nhớ Ông, chúng ta không nghĩ rằng những công trình của Ông là toàn bích, không lẫn chút ít sỏi sạn bên trong, nhưng chỉ có những đầu óc thiển cận, biệt phái, cực đoan nên chỉ biết“chấp” sỏi sạn mà vứt bỏ luôn châu ngọc trong đó.

Tưởng nhớ Triết gia Kim Định, tôi hình dung tới một cây cổ thụ sum xuê, tỏa bóng. Dẫu cổ thụ nào cũng có cành cộc, nên chớ làm con kiến leo ra leo vào. Hãy cố trèo cho đến cành cao, bằng không thì đứng tựa thân cổ thụ nhìn xa ra một chân trời mới, tìm cho mình một Đạo trường , để cho mình được sống An vi, Nhân bản, như cánh diều buộc nơi gốc cây, bay bổng trên trời cao, vẫn níu giữ, gắn liền với nguồn cội. Tôi chợt rùng mình khi nhớ lại lũ vô đạo, bất nhân, u mê đã từng đốn hạ những cây cổ thụ.!

Kính cẩn ghi chép để tưởng nhớ “Một Cõi Người” của Cố Triết gia Lương Kim Định./.

Nguồn: https://xuandienhannom.blogspot.com.au/2015/07/tuong-nho-triet-gia-kim-inh-nhan-ky.html

——————————————————————————————-

HÀNH TRÌNH KIM ĐỊNH Và AN VIỆT
Vũ Khánh Thành

Ngay sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm ổn định được miền Nam Việt Nam, các sinh viên du học nước ngoài lục tục kéo về xây dựng đất nước.  Trong số những người tôi biết hồi đó có Cha Vũ Khánh Tường, Cha Lương Kim Định, Cha Trần Thái Đỉnh, Cha Lê Tôn Nghiêm và Thầy Hải Linh.  Cha Tường tiến sĩ giáo sử, về Việt Nam năm 1956 làm bí thư cho Đức Cha Phạm Ngọc Chi, lúc đó là Tổng Ủy Trưởng Di Cư do Tổng Thống Diệm đề cử ổn định việc định cư các gia đình từ miền Bắc vào Nam, trong số này nhiều phần là người Công Giáo.  Các khu di cư này phần nhiều về phá rừng, khai khẩn đất đai vùng Hố Nai Biên Hòa, Hốc Môn, Gò Vấp, Cái Sắn v.v …. Cha Tường sau đó cũng được đề cử làm Hiệu Trưởng Trung Học Nguyễn Bá Tòng Saigòn.

Khi cha Tường và các cha, các thầy về vinh qui bái tổ, một buổi lễ rất lớn được tổ chức tại Giáo Xứ Trung Chánh của cha Trần Quốc Phú, linh tông với cha Tường. Lúc đó tôi còn bé, làm cậu giúp lễ tại nhà thờ Trung Chánh được điều động tiếp bàn, bê đồ ăn  vv…  Tôi nhớ cha Tường nhất vì ngài rất bệ vệ, đẹp trai, nói năng lưu loát kể cả pha trò cho mọi người cười vui,

Riêng về Cha Kim Định, sau này được nghe kể lại, khi hồi hương từ Paris về Miền Nam, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã sai ông Trần Văn Lắm lúc đó là Chủ Tịch Quốc Hội VNCH ra phi trường Tân Sơn Nhất đón tiếp và chào mừng Kim Định.

  1. GIAI ĐỌAN KHỞI ĐẦU

Khi mới vào miền Nam, các Giáo Phận miền Bắc qui tụ ngay giáo dân, các Chủng Sinh lập Tiểu Chủng Viện hay Đại Chủng Viện mang tên tân Bùi (Bùi Chu), tân Thanh (Thanh Hóa),  tân Hà (Hà Nội) ….  Các người dân bình thường cũng theo các linh mục đi phá rừng làm rầy mang tên nhở về quê cha đất tổ như vậy không khác gì người Mỹ gốc Anh lấy New York, New Hampshire, New South Wales.  Người Mỹ lúc đó tài trợ một tỉ mỹ kim cho chương trình di cư của người Bắc vào Nam là một triệu người, mỗi người của mổi gia đình được cấp 700 đồng tiền miền Nam lúc đó, cùng với dụng cụ cuốc xẻng v.v… Sau này lớn lên tôi được đọc về sự tài trợ này, thực là một phép lạ cho người Mỹ và Tây Phương về tính cần cù, chịu khó đáp ứng mau lẹ của người Việt Nam.  Phản ứng của người Miền Nam với việc di cư của người miền Bắc vào Nam lúc đó, họ không mấy nhiệt tình và thường nói “đất nước độc lập rồi còn vào Nam làm gì ”.

Cha Kim Định dạy học ở Đại Chủng Viện Lê Bảo Tịnh Gia Định từ 1958 do cha Trần Văn Hiến Minh làm Giám Đốc.  Được 3 năm thì theo lệnh của Giáo Quyền, các chủng viện di cư phải sát nhập vào Chủng Viện bản xứ.  Các cha giáo sư tiểu chủng viện Bùi Chu phụ trách trường Nguyễn Bá Tòng thay cha Tường.  Cha Tường về Đắc Lộ ngã tư Bảy Hiền.  Cha Kim Định cũng được cha Tường mời về Đắc Lộ giúp xứ ở đây và đi dạy Đại Học Văn Khoa Sàigon. Từ năm 1961 này tôi được sống gần cha Kim Định.  Lúc đó tôi đã học lớp 11 chuẩn bị thi Tú Tài phần 1.  Bản tính tôi thích đọc sách nên hồi đó có thầy Nguyễn văn Thiện cũng học cha Kim Định ở ĐCV Bùi Chu, cho tôi mượn đọc cuốn Tự Chiêu Minh Đức và cuốn Tâm Đạo là giảng khóa đầu tiên của Kim Định.  Tôi chẳng hiểu gì hết cho đến khi lên Đại Học, học lớp dự bị Văn Khoa với cuốn Cửa Khổng.  Tôi cũng học nhưng không có cảm nghiệm gì cả.  Chỉ học để trả bài lấy điểm lên lớp thế thôi.  Các buổi tối, sau khi ăn cơm xong ở Đắc Lộ, cha Kim Định thường đi bách bộ, có khi đi một mình, có khi đi nói chuyện với người khác.  Tôi mạnh dạn xáp vô nói chuyện với cha.  Tôi nhớ một lần tôi nói với cha “đọc sách cha sao con thấy hiểu về cuộc sống, về đạo Thiên Chúa khác quá”. Cha bảo chắc Thành bắt đầu hiểu về  triết lý nhân sinh rồi đấy.  Cứ cố gắng đọc đi.  Tây họ gọi sự chuyển biến này là cuộc “rửa tội siêu hình học” (Baptême métaphysique), không có chuyển biến siêu hình là chưa “ngộ”, chỉ có tri thức suông chứ chưa có nhất quán trong tư tưởng.  Điều này sau này tôi mới nhận rõ ra là nhiều người bạn của tôi trí khôn rất giỏi nhưng không hiểu được triết lý An Vi của Kim Định và Kim Định có hàng ngàn học trò, nhưng những người hăng say trong triết lý nhân sinh như căn bản của cuộc đời mình thì thực không có là bao.  Các giảng khóa sau tôi bắt đầu học với Kim Định về Chữ Thời, Nhân Bản, Những Dị Biệt Giữa Hai Nền Triết Lý Đông Tây, Cơ Cấu Việt Nho, Vũ Trụ Nhân Linh … Từ đây tôi đã hiểu phần nào Triết Lý Kim Định.

Các sách in tại Việt Nam lúc đó đều phải có phép của Bộ Văn Hóa Thông Tin VNCH và giáo quyền Công Giáo (phần lớn sách Kim Định do cha Trần Văn Hiến Minh đọc, trách nhiệm sau đó đề vào mấy chữ “Cunlicentiis Debitis” –  được phép in trên sách đã in).  Khi sang Hoa Kỳ không còn kiểm duyệt nữa nhưng phải nộp bản đăng ký chủ quyền tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ.

Một vài chuyện vui tôi kể ra đây coi như vớ vẩn nhưng nó như những giọt nước thấm dần về triết lý nhân sinh tôi lãnh hội từ Kim Định.

Một lần đi bách bộ với Kim Định ở Đắc Lộ, bọn trẻ con chơi ngoài đường nói rất lớn tiếng chửi rằng “Đắc Lộ ăn c”.  Lý do chúng chửi tục như vậy là vì buổi tối, cổng phải đóng, chúng không được chơi đùa, đá banh trong sân của trường học khu Nội Trú Đắc Lộ. Cụ Định thấy chúng chửi thế, cụ dừng lại cười, nói với tôi và một số chú khác cũng đang tụm năm tụm ba nói chuyện trên đường rằng,  “bọn trẻ này ngu quá, có mỗi một cái của quí mà cho người khác ăn, mai ngày lấy gì mà hưởng tứ khóai trên đời.  Mọi người đi tu ở đây không cần dùng mà có ai dám cho ai ăn của quí đó đâu ?  Chúng mày đúng là trẻ con, không ai thèm chấp”.  Thế là mọi người cười rồ lên.

Một lần khác cụ Định với một số các bậc vị vọng đi xuống Bình Chánh thăm cha Đinh Xuân Hải.  Trong khi đi đường cụ thấy hai con chó đang giao hợp với nhau.  Cụ Định bảo “Hai con chó này hư quá, trước mặt các đấng các bậc mà chúng mày cứ tự nhiên làm ăn như vậy à.  Nhưng thôi, tha cho chúng mày vì chúng mày có mùa mới làm ăn được còn con người thì tứ thời bát tiết, lúc nào cũng làm được cả cho nên mới ra trăm tội ở đời vì cái sự này.  Ngày xưa khi mới tạo thiên lập địa, Chúa bảo, hãy sinh sản cho đầy mặt đất thì tha thứ được chứ bây giờ mặt đất đã đầy rồi thì phải tiết chế hoặc hạn chế sinh sản chứ đâu có cứ đẻ mà không đủ ăn, không dạy dỗ thì xã hội sẽ hỗn loạn.”   Ai nấy đều cười về sự tiếu lâm của Kim Định.

Cụ Định đi dạy học lúc nào cũng mặc bộ áo dài trắng dân tộc. Đi xích lô đến trường dạy học.  Sau này một học trò biếu Thầy Kim Định một chiếc xe Jeep nhà binh đã phế thải, sửa lại, sơn màu khác màu xe quân đội để thầy lái xe đi dạy, tiết kiệm được thì giờ. Những lớp Triết Đông chuyên biệt của cụ thì số sinh viên tham dự bình thường nhưng những lớp Dự Bị thì chật cứng.  Số người nghe phải ngồi ra cả hành lang hoặc  có nhiều lần phải học ngòai trời, nhà trường đưa bàn giáo sư ra ngòai và mắc micro giảng dạy cho sinh viên nghe rõ.  Số sinh viên đến nghe cụ nói về triết Việt thật đông, kể cả những người không học ban triết cũng đến nghe.  Tôi còn nhớ, cuốn Cửa Khổng mỗi lần in 5000 cuốn và đã in lại nhiều lần tại Việt Nam.   Trào lưu về nguồn và tìm hiểu triết Việt lên rất mạnh.  Hồi đó miền Nam tuy đã có chủ quyền về chính trị nhưng về văn hóa ảnh hưởng Pháp còn rất nặng nề, tới nỗi gọi là Đại Học Văn Khoa mà triết Việt chỉ được xếp 8 giờ một tuần, sau dưới áp lực của sinh viện, được tăng lên 12 giờ.  Một Giáo Sư Khoa Trưởng Văn Khoa còn tuyên bố chỉ có triết học Trung Hoa chứ làm  gì Việt Nam có triết lý !  Cụ Khoa Trưởng này ngay những năm gần đây, khi thỉnh thỏang viết bài trên báo Thông Luận cụ ấy vẫn lạnh lùng nói Việt Nam không có triết lý, không có tư tưởng, đại lọai cùng lập trường theo mới, hòan tòan theo mới không chút do dự.  Theo mới tức là Âu hóa như nhóm Tự Lực Văn Đòan hay nhóm Thông Luận hiện nay. Các giảng khóa của cụ Định ngày đó cũng chỉ đề lấp lửng chứ đâu dám nói ra là Triết Lý Việt Nam ! Hiểu được hòan cảnh lúc này chúng ta mới thấy sự can đảm của Kim Định trong việc khôi phục hồn nước, khôi phục chủ quyền văn hóa cho dân tộc.

Ít năm sau khi sách vở đã ra được khá và số sinh viên cũng như người hâm mộ đã tăng lên, Kim Định mới dám chính thức gọi triết lý của mình là Triết Lý An Vi đặt trên nền Việt Nho là Nho Giáo nguyên thủy của Việt tộc đã được chắt lọc khỏi những yếu tố du mục do Hán Nho đem vào.

Một chuyện khác tôi vẫn nhớ Kim Định là khi làm lễ tại nhà thờ Đắc Lộ. cụ đi từ phòng áo ra bàn thờ, dáng dấp của cụ như một ông tiên, cách đi như một người vũ.  Hai tay cụ cũng nhẹ nhàng mềm mại như một vũ công.  Tôi quan sát rất kỹ hành vi cử chỉ của cụ khi làm lễ, rất siêu thóat bay bổng.  Tôi hỏi cụ điều này.  Cụ trả lời:  LỄ đi với NHẠC và VŨ.  Trong Đông Phương của ta, Lễ được tổ chức rất quan trọng.  Vua mỗi năm chỉ cử hành Lễ tế Nam Giao một lần.  Trước khi Tế, vua và quan phải chay tịnh cả tháng đặng đón nhận hội nhập linh thiêng giữa thiên và địa.  Sau vua đến làng xã, mỗi năm cũng Lễ Thành Hòang một lần cùng với nhiều lễ tiết khác.  Các cuộc lễ này cũng rất long trọng, ít ra 3 ngày,  mọi người ăn uống no say, có ca múa và nhiều trò chơi.  Các cô cậu thì được tự do hẹn hò.  Sau mùa lễ thì có đám hỏi để thành thân đôi lứa.  Xuống tới cấp bậc gia đình thì là Tết Nguyên Đán, Lễ Giỗ của những người thân trong gia đình, đều xóay trọn vẹn vào tâm linh.

Tôi hỏi thêm cụ, lễ trong thiên chúa giáo cũng có nhạc và vũ.  Nhà thờ Việt Nam nào khi có lễ lớn cũng có ca đòan hát rất hay, các đội vũ, đội dâng hoa cũng rất điêu luyện, nó khác thế nào so với Lễ thầy vừa nói.  Cụ nói, trong đạo thiên chúa ngày nào cũng có lễ.  Các Lễ này nhằm thờ phượng thiên chúa, cầu xin ơn của ngài.  Lễ của đông phương là “Tế thần như thần tại”.  Tức là tin có thần ở đó cũng được, không có thần ở đó cũng không sao.  Động tác chính của lễ là chính tác động của người tế, nhằm củng cố mối quan hệ giữ người với người, giữa người với tiền nhân mà cùng cực là Văn Tổ là tổ của các tổ tức là Nhân tính của con người, là Tâm Linh, nơi giao hội giữa Trời và Đất.  Nhạc hay vũ trong nhà thờ là để ca tụng Thiên Chúa , khác với Lễ, Nhạc. Vũ trong triết lý nhân sinh phát xuất từ tâm cảm của mình, hòa nhịp với vũ trụ, của trai gái biểu lộ yêu đương, của mối tình nguyên thủy của đáy lòng con người.

Năm 1966-67 tôi tốt nghiệp Cử Nhân Giáo Khoa Triết Tây tại Đại Học Văn Khoa Saigon.  Nghe lời cha Giám Đốc Đắc Lộ, tôi xuống Đại Chủng Viện Xuân Bích Vĩnh Long học Triết và Thần Học đồng thời ghi danh làm Cao Học với Giáo Sư Kim Định.  Thời gian tu học này, thầy Kim Định thường khuyên tôi cố theo đuổi để thành Linh Mục mặc dù khó lắm vì Thành đã hiểu triết lý nhân sinh nhưng phải cố để sau này huấn luyện chủng sinh, giáo dục bổn đạo để thành người trước khi thành Tu Sĩ,  Linh Mục, giáo dân.  Tôi nhớ mãi lời khuyên này nhưng không thể theo đuổi con đường tu đạo được. Được gần 2 năm, tôi trở về Saigon tiếp tục dạy học và nghiên cứu viết luận văn Cao Học của tôi cho tới năm 1970 tôi ra ứng cử Nghị Viên ở Tỉnh Biên Hòa.  Đắc cử, tôi lao vào họat động chính trị, xã hội và đi dạy,  trong khi vẫn thường xuyên thăm hỏi và trao đổi với thầy Kim Định.  Lúc này thầy đi dạy nhiều hơn.  Ngòai Đại Học Văn Khoa Saigon, thầy còn dạy ở Đại học Minh Đức, Thành Nhân, Vạn Hạnh, Đà Lạt. Thỉnh thỏang lúc kẹt thầy điện thọai cho tôi đi dạy thế ít giờ cho đến năm 1975, mọi sự hòan tòan xụp đổ.  Tôi kẹt ở lại, thầy đi thóat.  Tôi rất mừng về chuyện này.  Không ai có thể ngờ được về cuộc đổi đời của mình.

  1. GIAI ĐỌAN GẶP LẠI KIM ĐỊNH Ở NƯỚC NGÒAI

Ra được nước ngòai tháng 10 năm 1979, người đầu tiên tôi đi tìm là xem Thầy Kim Định ở đâu.  Năm 1980 nhân đọc một tờ báo xuân có đăng quảng cáo của anh Đăng Trường, sinh viên cũ của Kim Định, tái bản cuốn Hồn Nước Với Lễ Gia Tiên tại Hoa Kỳ.  Tôi viết thư cho nhà xuất bản nhờ chuyển cho Thầy Kim Định, báo tin tôi đã thóat khỏi Việt Nam và đang ở Anh.  Thầy hồi âm liền và chúc mừng tôi đồng thời khuyến khích tôi trau dồi Anh Ngữ để có thể viết được Anh ngữ trôi chảy hầu có thể quảng bá triết lý An Vi và Việt Nho cho thế giới.

Làm cho chương trình Tị Nạn của Bộ Nội Vụ Anh nhận 25 ngàn người Việt từ Hồng Kông sang Anh Quốc, tôi biết chương trình sẽ chấm dứt vào năm 1982, tôi đã chuẩn bị mình sẽ làm gì, học gì.  Tôi viết thư xin ý kiến thầy Kim Định.  Thầy khuyến khích tôi học tiếp Cao Học.  Đây là nguyên văn lá thư của Thầy:

“SaigonSan Jose 23/VIII/81.

Thành yêu dấu,

Hôm qua nhận được thư Thành đề ngày 18/8 liền đi cậy người ta đánh máy chứng nhận gửi kèm đây.  Quên không nhớ năm nào thi, còn nói assistant Minh Đức thì cũng như Đắc Lộ mà lại có tang chứng.  Minh Đức có lúc cũng đặt ở Đắc Lộ, còn làm cao học ra thuyết trình thay cho giáo sư cũng là truyện bên này họ hiểu được.  Nếu cần thì thêm vào tôi sẽ biên lại và thường thì phải gửi thẳng đến cơ quan liên hệ.  Nó có tính chất confidential hơn.  Nếu muốn làm thế thì cho địa chỉ và người nhận tôi sẽ gửi cho họ.

Họ sẽ chọn 5, 6 người nhưng trong số bằng nào giáo sư Việt Nam ?

Còn truyện hàn lâm, nếu được thì may lắm để cho anh ngữ lên độ viết được.  Coi vậy mà khó đấy.  Với tuổi lớn nó không feel được nữa.  Còn hàn lâm bên này là cái cực khổ nhưng cũng phải giấn.

Về đề tài mai ngày mà viết sách thì thiết nghĩ nên có một chương (hay một phần) nói về tình trạng triết Đông trước khi bộ An Vi ra đời để người đọc thấy rõ tính chất cách mạng của triết lý nọ.  Phần này có thể dùng A Source Book in Chinese Philo by Wing-Tsit-Chan.  Princeton University Press 1963. Hồ Thích, Phùng Hữu Lan.  Bên ta: Thục, Kim, Phan Bội Châu.

Sau đó đến triết an vi thì nên nói ít điềm:

  1. Về cơ cấu là lối mới mà bộ đó theo dùng số độ, hình đồ, huyền thọai, huyền sử đối chiếu, tổng quan.  Đó là phương pháp.  Về nội dung thì chia 2 phần: 1. là an vi tức nhân chủ, khác với nhân bản ở chỗ nhấn về hàng dọc trời đất, không có dị đoan nào nữa, cũng không dùng pias fraus nhưng là triết lý con người.  Trình bày trong thế đối chiếu với Ấn Độ (bái vật) hay cổ điển Tây Âu và cả mới (ý hệ) còn đây tâm linh.
  2. Phần 2 nói về nguồn gốc gọi là Việt Nho vì lấy tài liệu cơ bản tự Nho và Việt.  Cái  may của nó là đặt Việt trước Nho.  Nhờ cơ cấu.  Chú ý đến số, hình, chế, khảo cổ   (Trống Đồng) mà dám làm cuộc cách mạng đó.  Phần này tuy đã trình bày trong  chín quyển sau của bộ nhưng chưa được chính xác như nay trong những quyển mới nhất như Kinh Hùng (sắp ra) Sứ Điệp sẽ ra tiếp.  Văn Lang Vũ Bộ v.v …Nếu cần thì  sau sẽ xé và gửi cho.

Đại để đó là cái khung tổng quan.  Sẽ tùy đó mà rút ra từng phần hay tóm lược để làm luận án nhỏ hoặc to.  Nhưng đây nói sơ, sau còn phải nói dài tùy theo plan của Thành đưa ra.  Tôi chỉ giúp thêm ý.  Thí dụ huyền thọai Thôi Vỹ tôi đang làm căn cứ cho bài “Những Chặng Tiến Của Triết Việt” đã gửi cho Thành chưa ?  Cháu gái nay thì nói tiếng Anh giỏi hơn bố rồi chứ.  Có thể đã lưu lóat và chỉ vài năm nữa thì như Anh.  Mong cho gia đình sang sớm.  Nghe nói về tính cách di tản như vậy tôi cũng yên lòng vì bên này tôi ý theo dõi tình trạng các nước khá sát nút.  Nhờ có báo US News và Ti Vi.

Thôi chúc mọi sự tốt lành.      ĐỊNH LƯƠNG.

Theo sự gợi ý của Thầy, tôi đã cố moi óc để viết, dù không có một cuốn sách,  một bài báo trong tay, tôi đã viết được trên một trăm trang A4 viết tay để gửi cho trường SOAS (School of Oriental and African Studies) thuộc Viện Đại Học London.  Cũng chẳng có ai sửa Anh Ngữ cho tôi, cứ viết sao gửi vậy.  Sau vài tháng trường gọi tôi lên phỏng vấn và trắc nghiệm Anh Ngữ cùng với tất cả các sinh viên khác, họ nói chuyện một đề tài rồi yêu cầu sinh viên viết lại xem có hiểu đúng ý người thuyết trình không.  Tôi chẳng hy vọng gì vì anh ngữ hồi học ở Việt Nam là sinh ngữ hai, lại chẳng đi học thêm ở đâu cả, chẳng làm sở Mỹ, chẳng có cơ hội tiếp xúc với người nước ngòai làm sao khá được.  Nào ngờ tôi được nhận nhưng rất tiếc trường nói rằng, họ không có Giáo Su bảo trợ cho Luận Văn Cao Học của tôi.  Họ khuyên tôi sang học Khảo Cổ về Phật Giáo.  Tôi chấp nhận vì nghĩ rằng đây là cơ hội tốt để trau dồi Anh Ngữ.  Mỗi lần trở lại trường Đại Học, giáo sư và sinh viên chỉ ngồi gợi ý và thảo luận với nhau, sau đó họ cho hàng chục cuốn sách bảo đến thư viện tìm đọc rồi thảo luận lần gặp kế tiếp.  Tôi chới với vì với sinh viện khác, một tuần lễ họ đọc được dăm ba cuốn, còn tôi một cuốn không xong.  Vừa đọc vừa tra tự điển, nản chí quá.  Nhưng đến giờ học tôi nói sự khó khăn của tôi và chỉ trình bày một đề tài trong mớ sách tham khảo, ngầm ý rằng, các bạn đọc nhanh hơn tôi sẽ cho tôi biết tóm tắt các sách khác.  Cầm cự được gần một năm, tôi báo cho Thầy Kim Định tôi phải bỏ cuộc vì ngòai việc đọc sách ra, nhà trường còn bắt các sinh viên Cao Học phải đi làm tòan phần, hay bán phần.  Học Cao Học là nghiên cứu riêng của mình.  Tôi đã nhận đi làm vệ sinh văn phòng vào sau 5 giờ 30 chiều.  Thay vì nhà thầu cho tôi như hợp đồng là làm 4/5 tiếng một buổi, họ bắt tôi làm 8 tiếng một buổi tối tức là mỗi ngày làm tới 1 hay 2 giờ sáng.  Quá vất vả tôi bỏ học và bỏ làm sau khi đã cố gắng được gần một năm và mất luôn tiền đặt cọc 2 ngàn đồng bảng Anh.  Tôi cũng chẳng mất công kiện tụng, vì đã có việc làm về tài chánh (Financial Consultant) lo mượn tiền cho bà con mua nhà, mua cơ sở kinh doanh, đầu tư, tiết kiệm, bảo hiểm … Tôi đã thành công vượt bực.  Vừa làm kinh doanh, vừa bắt đầu lập Cộng Đồng Tị Nạn Việt Nam tại 2 thành phố Hackney và Islington từ 1982.  Đến năm 1986 tôi tách thành phố Hackney đứng độc lập với Islington thành Hội An Việt (lúc này để phù hợp với tình thế phát triển của người Việt, đến định cư lập nghiệp nhiều hơn ở Hackney, tôi dịch chữ An Việt thành “Người Việt An Cư Lạc Nghiệp =  An-Việt means Well Settled” và chỉ nhận một số chọn lọc hội viên, không nhân danh tòan cộng đồng Việt Nam để khỏi bị đảo chính như đã xẩy ra nhiều nơi và dễ theo đuổi con đường của mình.

 

  1. GIAI ĐỌAN KIM ĐỊNH TIẾP TỤC SÁNG TÁC

Thầy Kim Định đã bị một giai đọan khủng hỏang tinh thần trầm trọng sau ngày 30.4.1975 trong một ý thức sâu thẳm khôn cùng mà thầy luôn nhắc lại một cách thấm thía:  “Đạo mất trước, nước mất sau”.  Câu nói này lúc trước tôi đã nghe thầy nói nhiều lần nhưng chỉ ở ngòai tai y như những lời cựu TT Nguyễn Văn Thiệu nói “Đất nước còn, còn tất cả, đất nước mất, mất tất cả” – hay câu “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” .  Ai ở miền Nam ngày đó đều hiểu là những câu tuyên truyền, chẳng ai bàn luận, chẳng ai bận tâm.  Nhưng khi đã trải qua sau những ngày 30.4.1975 mới thấm tới tận đáy lòng của mình.  Cụ Định đã viết “ … và ngày 30.4.75 khi tai họa sụp xuống thì từ đáy một suối bất tận nước mắt cứ tuôn trào ra như từ muôn con tim thổn thức của tiên tổ, không cho tôi giảng giải gì được nữa.  Cứ đang nói là nước mắt tuôn trào, tôi rất xấu hổ mà không làm cách chi cầm lại được.”  Phải đến năm 1978 cụ mới bắt đầu cầm bút lại để sửa cuốn “Căn Bản Triết Lý Trong Văn Hóa Việt Nam” thành cuốn “Hồn Nước Với Lễ Gia Tiên”, tên nguyên thủy của cuốn sách mà khi còn ở Việt Nam, khi xuất bản lần đầu, phải mang một tên khác cho có tính cách hàn lâm.  Sách do anh Đăng Trường, một sinh viên cũ của cụ ấn hành, tháng 8/79 tại San JoseCalifornia.  Trong 10 năm trời này (1978-1988), Kim Định đã ra đuợc 10 cuốn cộng với 22 cuốn đã xuất bản tại Việt Nam để hòan chỉnh trọn bộ Kinh Điển Việt Nam mà cụ đặt tên là Cửu Khâu, Bát Sách. Ngũ Luận, Tam Phần, và Thái Bình Minh Triết. Tất cả là 7,617 trang sách ! chưa kể những sách chưa in và những sách đã bị thất lạc . Tất cả tòan bộ Kim Định đã viết là 45 cuốn (Xin xem thư mục ở Tiểu Sử Kim Định).

Việc in sách Kim Định trong thời gian này do HT Kelton xuất bản.

Năm 1984 Kim Định đi Đài Loan, tham dự Hội nghị triết học Quốc Tế tại Đại Học Đông Hải. Tham Luận của Kim Định là “Vai Trò Của Nho Giáo Trong Thế Giới Ngày Nay”.

Năm 1987 Kim Định tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Khổng Học Với Thế Giới Ngày Nay tổ chức tại Đài Bắc, Đài Loan.  Cùng đi với Kim Định là Giáo Sư Linh Mục Vũ Đình Trác. Tham Luận của Kim Định là “ Đạo Trường Chung Cho Đông Nam Á”.  Hai bài tham luận này và vài bài khác, sau này đuợc in thành sách với tựa đề “Đạo Trường Chung Cho Đông Nam Á” thay vì Thị Trường Chung Âu Châu  đang được các nước Âu Châu thành lập trong thời điểm này.

Tháng 7 năm 1988 Kim Định đi Brighton Anh Quốc tham dự Hội Nghị Triết Học Thế Giới để gặp một số nhân vật quan trọng. Vì thì giờ hạn hẹp tôi đã xuống Brighton gặp Thầy Kim Định sau đó thầy đi Pháp rồi qua Hòa Lan và trở về Hoa Kỳ đi  Batavia khởi  đầu các lớp huấn Luyện Cán Bộ An Vi với anh Nguyễn Bỉnh Duy.  Sau lớp huấn luyện này, thầy đi Úc theo lời mời của Bác Sĩ Nguyễn Văn Vinh và hiền thê Hùynh Thị Sáu (học trò của thầy). Thầy cũng gặp Bs Trần Đại Sỹ và bào huynh Võ Sư Trần Hữu Quyền …  là những người tổ chức các buổi nói chuyện cho Thầy ở Melbourne, Sydney và vài thành phố khác vô cùng thành công.

(Xin xem thơ của Thầy ngày 19.7.1988 và thư mời của Cộng Đồng người Việt tại Hòa Lan).

Thư ngày 19.VII.88 thầy viết:

“Thành thân yêu,

Mọi sự xuôi chỉ chưa mua được vé máy bay San Jose London.  Gọi ba lần mà hãng du lịch không tìm ra chỗ. Nhưng đang cậy vài chỗ mua.  Tôi định đến London 23 hoặc 24.  Đi xuống đại hội triết rồi về với anh em và nói truyện 28. Đi Hòa Lan 29 thì có lẽ tôi lấy train đi Paris gặp anh em An Việt ở Paris vì Lộc (Lê Xuân Lộc) mới sang cho biết mấy điều rất thuận lợi để nối kết.  Ở vài ngày đọan mồng 2 hay 3 sẽ về San Jose (2 hay 3 vì còn tùy mua vé máy bay để 2 ngày flexible cho dễ mua vé.  Vé Úc họ mua rồi mà chưa nhận được để đi xin Visa).  Đi Úc 2-19 tháng 8  xong 2 chuyến đi Úc và Âu thì An Việt đã có chân trên quốc tế.  Khi sang sẽ đưa sách Gốc Triết Việt, và hi vọng cả tranh Trống Đồng mới.  Bài Huấn Từ gửi xem trước 1 mình để … đọc cho những chiến sĩ trước khi ký kết lời hứa”.

Chào.      KIM ĐỊNH

Tôi tự lấy máy bay đi Hòa Lan gặp thầy Kim Định và gặp gỡ anh em bên Hòa Lan.  Cuộc gặp gỡ được tổ chức rất chu đáo và có hàng trăm người tới tham dự trong đó có một số anh em từ Đức và Đan Mạch qua.  Sau ngày họp tôi theo Thầy Kim Định đi thăm khu lấp biển lấy đất của công trình thủy lợi Hòa Lan.  Thầy rất khâm phục việc trị thủy này và mong muốn Việt Nam sẽ  học được để phát triển cho xứ sở, mở rộng việc canh tác, nuôi cá v.v…

Ở Hòa Lan ít ngày, Thầy Kim Định và tôi đi Đan Mạch để tiếp xúc với anh em bên đó.  Sau Đan Mạch thầy đi Pháp rồi trở về Mỹ.  Tôi về lại Anh Quốc.

Đến đây tôi có thể kết thúc sự nghiệp văn hóa của Kim Định như sau

Kim Định là người đầu tiên “đã bày tỏ mối cảm tình thâm sâu với Triết Đông vì nhận thấy trong đó một nền nhân bản chân chính.  Trong khi đào sâu thêm, ông cho là đã khám phá ra một điều thú vị thứ nhì:  Đạo Nho trước hết là của Việt Nam, còn người Trung Hoa đến sau chỉ làm cho hòan bị cũng như về sau làm cho sa đọa ra Hán Nho.  “Sứ mạng của Triết Đông, ông nói, là phải trả lại cho Nho Giáo sự chính truyền của chủ cũ .  (NXB An Tiêm – HCGD 1970  trang bìa).

Nhận định như trên của Nhà Xuất bản An Tiêm đã tóm tắt 2 trụ cột chính của sự nghiệp Kim Định;

–   Điều thứ 1Kim Định đã làm một  việc như Khổng Tử, san định lại nguyên Nho hay Việt Nho.

Vì xét cho cùng, khởi nguồn từ huyền sử  với những vị như Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa cho mãi tới hơn sáu trăm năm trước tây lịch mới có một Khổng Tử ở nước Tàu san định lại nguyên Nho hay Việt Nho và người cũng là đại diện cuối cùng của nền Minh Triết này và từ đó tới đầu thế kổ 20 nguyên Nho đã bị bẻ quẹo, hay xuyên tạc để củng cố đế quyền. Và cũng mãi tới đầu thế kỷ này mới có một người làm một việc giống như Đức Phu Tử bên Tàu khi xưa.  Có nghĩa là hơn 26 thế kỷ mới lại có người đưa Đạo Nho trở lại vị trí đích thực của nó.  Người đó lại là người Việt tên Lương Kim Định”.  (Nguyễn Việt An, đọc trước giờ hạ huyệt).

–   Điều thứ hai: Bách Việt đã làm chủ miền nam Trung Quốc trước khi bị Mông Cổ xâm lăng.

Điều này gây tranh cãi nhiều đó là qua khảo cổ, dân tộc học, xã hội học, văn hóa tỉ giảo, ca dao tục ngữ, phong tục học, ngôn ngữ học, phân tâm học, nhân chủng học và nhất là Cơ Cấu luận … Kim Định đã khám phá ra Việt tộc tức Bách Việt đã làm chủ miền Nam Trung Quốc trước khi bị người Mông Cổ xâm lăng.  Người Bách Việt đã biết trồng lúa, nhìn vũ trụ đặt nền tảng cho Kinh Dịch, có chữ viết tượng hình, trai gái múa hát mà có Kinh Thư.  Không phải là nhà khảo cổ, Kim Định nhường cho những khám phá mới mà ngày nay đã thật rõ nét qua những công trinh của Tiến Sĩ  William Solheim, Tiến Sĩ Stephen Oppenheimer (Địa Đàng Phương Đông), nhà di truyền học SW Ballinger, hội nghị tại Đại Học Berkeley với “The Origins of Chinese Civilisation” đã xác tín cơ sở khoa học cho học thuyết Kim Định: Người nguyên thủy từ Phi Châu qua Ấn Độ đến Đông Nam Á tới Úc Châu.  Một nhánh khác từ Đông Nam Á lên Trung Hoa qua Siberia và Mỹ Châu. (S. Oppenheimer – Out Of Eden). Hết thời du mục người Mông Cổ đã xâm lăng miền Bách Việt nông nghiệp, đẩy khỏang 30% dân Bách Việt tứ tán khắp nơi, sau thành nước Thái, Miến, Miên Lào, Indo, Malay, Đại Hàn, Nhật Bản ….  Nhóm Việt duy nhất còn giữ được văn hóa nguyên thủy, tên Việt, chạy về phương nam, lập ra nước Việt Nam ngày nay. 70% dân Bách Việt còn lại đồng hóa với người Mông Cổ thành người Hoa Hạ, người Hán, tức người Trung Hoa hiện nay (Mông Cổ phương nam).  Như vậy những thành tựu văn hóa xuất hiện trên đất Trung Hoa trước 2600 TCN đều là sản phẩm của người Việt Nam.

Từ sau 2600 năm TCN, người Bách Việt bị mất đất, mất chủ quyền chính trị nhưng do số dân đông và văn hóa cao nên văn hóa Việt giữ vai trò chủ đạo trong văn hóa Trung Nguyên.  Nhờ đấy tạo nên thời hòang kim trong lịch sử Trung Hoa.  Ở thời đại này, tiếng Việt hòa nhập với tiếng nói của chủng Mông Cổ và là chủ thể của ngôn ngữ Trung Hoa.  Trí thức Việt–Mông kế thừa văn hóa của Bách Việt sáng tạo ra nền văn hóa Trung Hoa rực rỡ.  Trong vai trò lãnh đạo xã hội, người Hán-Mông Cổ khai thác và phát triển văn hóa của người Việt lên tầm cao mới nhưng cũng dần dần lái nó sang tinh thần du mục” (Xin đọc thêm HàVăn Thùy).

Thuyết Việt Nho và An Vi của Kim Định không những cho Việt Nam mà còn cho tòan khối Đông Á nhận lại nền Minh Triết của mình.  Kim Định đã đề nghị lập một “Đạo Trường Chung Cho Đông Nam Á” rất được các học giả Trung Quốc và thế giới trân trọng đón nhận.

Mở đầu cuốn “Việt Lý Tố Nguyên” Kim Định viết:

“Đây là công trình của một cuộc khảo cổ khác thường, không dừng lại ở khảo cổ, ở bác học, nhưng phóng tầm mắt ra bên ngòai, bên trên, bên dưới, khảo cổ, lịch sử, bác học, để cố tìm ra những nét căn bản chạy ngầm xuyên qua lịch sử nước nhà, nhưng tính chất có ngay từ đầu và sẽ còn mãi với dân tộc, nên gọi là Tố theo nghĩa bản lai cố hữu.  Độc giả sẽ nhận ra lối khảo cổ như trên, chứa rất nhiều tia sáng lạ kỳ vào con đường chúng ta phải đi đến đợt văn minh chân thực.  Như thế sự quay về học lại nguồn gốc nước nhà dưới mọi khía cạnh văn minh.  Văn hóa, định chế, sử, địa, văn chương … không còn là một việc khảo cổ suông trong thư viện nữa nhưng chính là giúp vào việc kiến quốc, tìm ra và củng cố tinh thần dân tộc, đặt nền tảng vững chắc cho nền Quốc Học ngày mai vậy.”

(Trang bìa sau NXB An Tiêm 1970).

Một điều rất thú vị tôi xin nêu ra ở đây là một nhà văn hóa xã hội chủ nghĩa của đảng cộng sản Việt Nam tên là Nguyễn Huệ Chi đã viết một bài trong cuốn TỪ ĐIỂN VĂN HỌC Bộ mới, NXB Thế Giới 2003, từ trang 754 đến trang 758, Nguyễn Huệ Chi chú ý đến Kim Định là Linh Mục Thiên Chúa Giáo, chỉ nghiên cứu triết học và văn hóa và Kim Định đã nêu nổi bật nguồn gốc Nho Giáo trong tiến trình nghiên cứu.  Nguyễn Huệ Chi không đả động gì đến triết lý An Vi mà Kim Định đã để cả đời với 45 tác phẩm để xây dựng cho dân tộc.   Nguyễn Huệ Chi cho là cuốn Cửa Khổng là tất cả tư tưởng Kim Định.  Ông không nhắc nhở gì đến các tác phẩm khác, không nói gì đến việc Kim Định đã đập phá tan tành triết lý hữu vi giết người mà theo Heidegger (triết gia lớn nhất của Đức) nói Triết học Tây Phuơng đặt nền tảng trên hữu hoặc vô, đi tới đâu là gieo máu và nuớc mắt tới đó.  Thứ triết học nhị nguyên đó đã tựu thành mọi tai ương cho nhân lọai là: Chủ nghĩa thực dân, chế độ kỳ thị chủng tộc và chế đô cộng sản.

Nguyễn Huệ Chi không công nhận Kim Định là triết gia (chỉ nhắc tới Cao Xuân Huy và Trần Đức Thảo) như câu kết của bài việt  “…. Một hệ thống vấn đề không kém quan trọng đang là ẩn số cần được tiếp tục giải đáp trong các ngành Khoa Hoc Xã Hội và Nhân Văn Việt Nam”.  Vì hạn chế sống trong xã hội chủ nghĩa, Nguyễn Huệ Chi đã không nhắc đến các ngành khác như Đạo Học, Tôn Giáo, Thần Học, Tâm Linh … cũng có ý nghĩa với vận mệnh, cứu cánh của con người.  Từ sự phủ nhận của nhà cầm quyền cộng sản với sách vở, tư tưởng của Kim Định, bài của Nguyễn Huệ Chi đã được chấp nhận để đưa vào Từ Điển Văn Học, cũng là điều đáng lưu ý , đáng hoan nghênh.

Một số phê bình khác về Kim Định tập trung nơi cách trình bày thiếu tiêu chuẩn hàn lâm của Kim Định.  Tôi xin trưng dẫn một nhận định tiêu biểu của Cố Luật Sư Cung Đình Thanh:  “ Kim Định đã viết nhiều mà lại bất cần đến logic, cũng chẳng để ý đến việc dẫn chứng những sách tham khảo, dù ai cũng biết là ông đọc thiên kinh vạn quyển, lúc nào cũng có thể thực hiện được những việc này một cách dễ dàng.  Bởi vậy, chỉ những ai có cái căn bản Việt Học như ông, có cái tâm như tâm ông mới cảm được ông; nếu không dễ cho là ông nói vu khóat, nói không chứng cớ.  Tôi xin nói ngay, dù vô cùng ngưỡng mộ GS Kim Định và đồng ý với ông về một số điểm trong vấn đề nguồn gốc văn hóa Việt Nam nói chung và tư tưởng Việt nói riêng, nhưng chúng tôi không đồng ý về phương pháp ông sử dụng và sẽ không dùng những phương pháp kiểu này để sọan thảo quyển Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam”.  Cố Luật Sư Cung Đình Thanh viết tiếp:

“Tuy nhiên, ngay đây chúng tôi muốn đặc biệt trình bày với quí anh và bầu bạn khắp nơi là:  có một điều lạ kỳ chứng tỏ sức sống của người Việt vô cùng mạnh mẽ là chính tại giảng đường ngôi trường hơn 20 năm trước GS Kim Định đã rao giảng thuyết trên, tại thành phố mang tên Hồ Chí Minh, một người can đảm khác là Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Ngọc Thêm, cũng đang rao giảng những điều tương tự.  Quyển sách làm nền cho những bài giảng của ông Thêm được chính Bộ Giáo Dục chính quyền hiện tại chấp thuận, được trường Đại Học Tổng Hợp Saigòn ấn hành, được các giáo sư nổi tiếng của chế độ giới thiệu và hoan nghênh.  Như vậy có thể nói là đã được chính quyền xã hội chủ nghĩa mặc nhiên đồng thuận.  Quyển sách đó mang tên “Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam”, ấn hành năm 1996.  Tất nhiên việc làm của ông Thêm cũng không tránh được những đả phá gay gắt, kiểu như  “hơn 20 năm sau, TS Trần Ngọc Thêm lặp lại theo kiểu photocoppi hầu hết những ý tưởng quá táo bạo, quá động trời, ngược lại sử sách hơn hai ngàn năm nay của Kim Định” (trang 268 – Phê bình phản phê bình của Trần Mạnh Hảo, 1966) và “ Đến đây, chúng tôi có thể kết luận rằng, hầu hết những luận điểm gọi là khoa học rất “mới mẻ” trên của Trần Ngọc Thêm, nghĩa là “những phán quyết động trời” như vừa trình bày, đều được chiết ra từ những cuốn sách đã dẫn của Kim Định.  Thậm chí cả đến cách lập luận của ông Thêm hầu như cũng đều sinh ra từ ông Định.  Đó là phương pháp luận phi khoa học mà chúng tôi gọi là phương pháp truyền thuyết luận, thần thọai luận, ngữ nghĩa luận, linh cảm luận được góp chung trong cái rọ phiếm luận” (Trang 272 sđd).  Cố Luật Sư Cung Đình Thanh viết thêm:

“Chúng tôi chẳng cần biết ông Thêm có photocoppi hay không thuyết của ông Kim Định, chỉ biết ông là người can đảm và rất có công.  Bởi nếu không phải là ông hay những người khác như ông thì một người “ở ngòai” như ông Kim Định hay như chúng ta làm sao có thể được phép chính quyền xã hội chủ nghĩa cho vào rao giảng những lý thuyết khác kiểu “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa” tại Đại Học thuộc quyền kiểm sóat của họ ?  Đã đành ông Thêm cũng như ông Kim Định chưa chứng minh được một cách khoa học lý thuyết của mình để thuyết phục được những người quen lối tư duy kiểu Tây Phương.  Nhưng điều hạn chế đó đâu có trách họ được.  Tôi muốn nói đến cái lý luận người ta gọi là khoa học theo “kiểu cũ đó” (nghĩa là mới chỉ ít chục năm về trước) cũng đã lỗi thời rồi.  Điều quan trọng là họ (GS Kim Định và GS Thêm) đã có can đảm đem những tư tưởng trên gieo rắc vào đầu óc những người trẻ tuổi yêu nước.  Chính thành phần này (tất nhiên phải có sẵn những chủng tử yêu nước trong đầu) 20 năm trước cũng như những thanh niên đang ngồi ghế giảng đường Đại Học Saigòn hôm nay sẽ làm nhiệm vụ tìm chứng minh khoa học cho những luận điểm kể trên”  (Tiếng Chim Gọi Đàn – dự án viết Lịch Sử Tư Tưởng Việt của Cung Đình Thanh, trang 52-53).

Cuối cùng để khỏi bị tiếng là mẹ hát con khen hay, tôi xin trưng lời của nhà phê bình có tiếng tăm ở hải ngọai ngày nay là Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích viết về Kim Định như sau: “Nếu ta không nhất thiết đồng ý với hết cả ý kiến của ông, ta cũng sẽ được làm thân với một trong những bộ óc triết lý lớn nhất nếu không của nhân lọai thì cũng của Việt Nam”

  1. GIAI ĐỌAN THÀNH LẬP NƯỚC VIỆT LINH THIÊNG (VIỆT LINH)

Từ năm 1989 Kim Định vào đời với việc kêu gọi thành lập phong trào Việt Linh mà nền tảng là các hội An Việt có mặt trên khắp nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu, rồi tổ chức Quốc Dân Đại Hội 1989 và mặt trận Văn Hóa phát huy tinh thần Hội Nghị Diên Hồng.  Kim Định thâm tín rằng muốn phục quốc phải khôi phục Đạo Việt.  Hãy nhìn khối người Do Thái tản mát khắp nơi như dân tộc Việt ngày nay, dù ở khắp nơi, người Do Thái vẫn đòan kết, muôn người như một là nhờ Thánh Kinh như quê hương bỏ túi của họ. Hãy nhìn các tôn giáo như Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo họ cùng có một nền tảng tinh thần để đòan kết như một.  Ngay cả cộng sản, tôi không nói đến đúng sai hay dùng công an, hộ khẩu, nhà tù, bạo lực cách mạng, đạo đức cách mạng, chuyên chính vô sản … để cai trị nhưng ít ra họ có thuyết duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác Lê để làm nền cho chủ nghĩa (mặc dù phi nhân) của họ.  Trớ trêu thay, tới nay vẫn còn có những người bênh vực, tin theo.

Kim Định không làm chính trị nhưng quan tâm đến chính sự cho nên ngài tổ chức Quốc Dân Đại Hội để đòan kết người Việt hải ngọai, hô hào trở về Việt Đạo làm nền tảng cho việc cứu quốc và dựng nước.  Linh Mục Phạm Quang Thúy viết “Tâm hồn thầy Kim Định vô cùng bao dung khoan hòa.  Thầy chỉ khích lệ và chân thành nâng đỡ, không hề có sự chỉ trích lên án (một số anh chị em An Việt chuyển qua thiền định và giúp nhau cộng tu phương tiện theo đường lối của Ni Sư Thanh Hải.  Nhóm đó số đông theo đạo Công Giáo). Nhiều Linh Mục Tu Sĩ  e ngại người tiến bộ quá đã ngần ngại không dám thân thiện với Thầy … Thầy ca tụng hết lời anh em Phật Giáo Hòa Hảo.  Thầy nắm bắt được tư tưởng chủ yếu của Đạo  là “Học Phật, Tu Nhân” và thuyết Tứ Ân: “1. Ân tổ tiên cha mẹ. 2. Ân đất nước. 3. Ân Tam bảo. 4. Ân đồng bào nhân lọai. (Xin đọc bài của Kim Định: “Vài suy nghĩ về Phật Giáo Hòa Hảo”, từ trang 699 – 706 trong “Phật Giáo Hòa Hảo Trong Giòng Lịch Sử Dân Tộc” của Nguyễn Long Thành Nam (Đuốc Từ Bi 1991).

Nữ Sĩ Huệ Thu cũng viết: “Điều rất ngộ Ngài là một Linh Mục Thiên Chúa nhưng rất được lòng giới tu hành Phật Giáo.  Việc ngài được mời giảng dạy tại Đại Học Vạn Hạnh, cho thấy ngài là người có tinh thần và thiện chí hòa đồng.  Chưa hết, sách của ngài còn được nhà xuất bản An Tiêm lãnh phần in ấn nữa.  Chính nhà xuất bản An Tiêm đã đăng báo Bách Khoa giới thiệu ngài rất hậu hĩ.”

Những khuôn mặt nổi bật của giai đọan đầu An Việt là Chị HUỆ THU, anh Trưởng Tràng TRẦN QUÍ MINH và anh Phó Tràng là NGUYỄN BỈNH DUY, Ở New Orleans là Trần Huy Vân (bút hiệu Vương Kỳ Sơn) Portland Trương Như Thường.  Florida Vũ Văn Phiên. Ở Houston là Nguyễn Duy Quang, Trần Việt Văn và bao nhiêu anh chị em khác.

Tôi không lạ gì phong trào An Việt và việc tìm về văn hóa Việt Nam giai đọan này phát triển rầm rộ vì từ năm 1975 đến giờ (1988) đồng bào ta ở tại Hoa Kỳ đã tạm ổn định, những hụt hẫng về văn hóa đã hiện rõ: chúng ta bị bứng ra khỏi bầu khí văn hóa tại quê nhà, những đau thương do cuộc đổi đời đã tạm lắng đọng, người Việt cảm thấy thiếu thốn một cái gì cần phải làm để duy trì gốc Việt đã bị trốc, phải dựng lại để có căn bản giáo dục con cái, các thế hệ sau.  Phong trào này lại được thúc đẩy bởi một giáo sư đại học có tầm cỡ, làm thay cho Bộ Giáo Dục hay Bộ Thanh Niên khi đất nước còn trong tay một Chính Phủ do dân bầu thực sự, nay mất nước rồi mọi người phải tự làm lấy, nhất là các người có một vốn liếng nào đó, tự cảm thấy mình “Quốc Gia Hưng Vong, thất phu hữu trách”.  Xin xem:

  1. Tin thư An Việt số 42 ngày 23.8.1989 thầy báo tin anh em An Việt – Việt Linh như sau (2 trang).
  2. Bản tin Việt Linh về Quốc Dân Đại Hội 7.10.1989
  3. Thông cáo chung 18.10.1989
  4. Thư mời “Đại Lễ Quốc Tổ Hùng Vương”

“ Phát Huy Tinh Thần Hội Nghị Diên Hồng”  (31.3.1990)

  1. Anh Trương Bổn Tài ra tập san “Sống Như Chơi” được 5 số: số 1 ngày

1.4.1990 số 5 ngày 16.2.1991.

Sau đó Kim Định đi Toronto Canada tham dự  Hội Nghị lần thứ 33 Triết Học Á Châu và Bắc Phi với bài tham luận “Tôn Giáo Và Ý Hệ Tại Việt Nam”. Rồi cũng trong thời đỉểm triệu tập Quốc Dân Đại Hội này, Kim Định đã viết 2 bài mạnh mẽ: “ Liên Đòan Công Giáo Việt Nam:  Nghĩa  Vụ Đối Với Dân Tộc” – “Tôn Giáo Với Việc Phục Việt” đăng trong “Chứng Nhân Công Giáo”, tháng 4 và tháng 5 năm 1989.  Hai bài khác là “Cứu Quốc” và “Việt Linh Và Các Tôn Giáo”. (Xin đọc thêm ở http://www.vietcatholic.net/kimdinh)

Nội dung Kim Định phân tích mới có Công Giáo chứ chưa có Việt Nam ; mới có một vai Thiên Chúa, chưa có vai Tổ Quốc.  Đối với các tôn giáo ngài kêu gọi cùng nhau đưa ra một mô thức đòan kết dân tộc gồm 2 điểm là học hỏi về văn hóa dân tộc hai là tích cực góp tiền của để làm điểm tụ vật chất thay cho quê mẹ mà tạm thời chúng ta phải xa cách.

Sau đó Luật Sư Phạm Nam Sách đã góp ý với Kim Định trong bài “Đặt Vấn Đề Ý Thức Trách Nhiệm Đối Với Quốc Gia Của Quốc Dân” đăng trong báo Ngày Nay Houston số 191 ngày 1.10.89 và đặc biệt Lê Trọng Văn đã viết nguyên một cuốn sách mang tên “Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị”:  Cao Thế Dung, Nguyễn Văn Chức, Nhị Lang, Trần Văn Dĩnh, Cao Văn Luận, Lương Kim Định. NXB  Mẹ Vịệt Nam 1992.  Sách dầy 456 trang.  Kim Định từ trang 335 đến trang 455 lên án Kim Định “phủ nhận lịch sử, sửa lại cổ sử Việt Nam, mưu đồ chạy tội bán nước của Giáo Hội Thiên Chúa Việt Nam từ mấy thế kỷ trước cho tới nay” (dòng 1, trang 336). Riêng về “hai tổ chức An Viêt và Việt Linh đã rập khuôn theo phương thức của cơ quan tình báo P2 của Tòa Thánh Vatican, mà trước đây Ngô Đình Nhu đã mô phỏng để tổ chức đảng Cần Lao Thiên Chúa Giáo” (dòng 3 trang 428).  Tôi xin miễn viết thêm vì ai đã đọc Kim Định đều nhận thấy trên 30 sách đã viết về dân tộc không hề có chút chi là tôn giáo chứ đừng nói đến Công giáo.  Ngay danh xưng, Kim Định luôn mong muốn người ta gọi mình là Giáo Sư hay Triết Gia chứ không muốn được gọi là Linh Mục.  Còn các sinh viên, môn sinh của ngài luôn dùng từ Thầy Kim Định rất gần gũi, dản dị và thân thương !

Hồi Bác Sĩ Trần Kim Tuyến còn sống ở Cambridge (Bác Sĩ Tuyến là trưởng cơ quan mật vụ (CIA Việt Nam) hồi đó gọi là Phòng Nghiên Cứu Chính Trị Phủ Tổng Thống) tôi thường đến chơi với Bác Sĩ Tuyến, có lần tôi hỏi ông, Bác Sĩ có biết Lê Trọng Văn là ai không.  Ông nói: Văn là một tên cộng sản nằm vùng, bị ông Ngô Đình Nhu truy nã nên đã chạy sang Lào hay Thái trốn tránh.

Giai đọan phục hồi văn hóa Việt qua các tổ chức An Việt và qua việc Kim Định đi bốn bể năm châu thúc đẩy các cộng đồng tị nạn Việt Nam học tập , giữ gìn, phát huy Việt Đạo. Giáo Sư Trần Văn Đòan đã không ngần ngại khẳng định tại Viện Triết Học, Trung Tâm Khoa Học Xã Hội Hà Nội ngày 18.1.1997 rằng Kim Định vượt xa Trần Đức Thảo trong lãnh vực suy tư và trong tinh thần ái quốc cũng như sự nhiệt tâm của Kẻ Sĩ”

Từ ngày 25 tháng 7 đến Chủ Nhật 29 tháng 7 năm 1990 tôi tổ chức Đại Hội An Việt Tòan Cầu và Trại Hè Thanh Niên Âu Châu tại Đại Học WARWICK ở Coventry Birmingham dưới sự chủ trì của Triết Gia Kim Định, Bác Sĩ Trần Đại Sỹ, (Pháp) và Giáo Sư Phạm Việt Tuyền (Strasbourg) cùng với 150 các em học sinh và sinh viên Việt Nam. Phái đòan Mỹ, ngòai Thầy Kim Định còn có Gs Như Thường Trương Bổn Tài và một số anh chị em sinh viên khác.  Trong 5 ngày ở nội trú và hội thảo các em học sinh và sinh viên tại Anh đã được thầy Kim Định, Bác Sĩ Trần Đại Sỹ và Giáo Sư Phạm Việt Tuyền hướng dẫn về văn hóa Việt Nam, anh Trương Như Thường và 2 cô Sinh Viên từ Mỹ hướng dẫn sinh họat, lửa trại, thăm các thắng cảnh địa phương, sinh họat văn nghệ.  Thật là một tuần lễ đáng ghi nhớ mãi trong đời.

Từ ngày 13 đến 19 tháng 7 năm 1991, Anh Lê Hùng và tôi tổ chức Đại Hội An Việt Tòan Cầu và trại hè Thanh Niên Âu Châu tại Vương Quốc Bỉ được sự trợ giúp của Bộ Văn Hóa Pháp Ngữ tại Bỉ.  Đại Hội được tổ chức tại Trung Tâm Văn Hóa Marcel Hicter.  Tôi đem từ Anh sang một xe đò lớn các học sinh Sinh Viên và nhờ anh Lê Hùng in áo thung có huy hiệu An Việt.  Từ Mỹ qua có Thượng Tọa Thích Giác Lượng, Phó Chủ Tịch An Việt anh Như Thường Trương Bổn Tài và một số sinh viên khác từ Mỹ,  Bên Pháp có Bác Sĩ Trần Đại Sỹ, Kỹ Sư Phạm Anh Dũng, một số từ Hòa Lan, Đức.  Hướng dẫn hội thảo và sinh họat là Bác Sĩ Trần Đại Sỹ, Trương Bổn Tài.  Văn Nghệ Thể Thao là Tôn Trung Cang Anh Quốc.

Thầy Kim Định không sang được dịp này.  Tôi không biếr tại sao, không ai nói.  Sau này mới được tin thầy bị bệnh.  Nhiều nguồn tin khác nhau về sự đột quị của Thầy.  Thầy viết cho tôi 2 lần báo hung tín này, tin càng ngày càng xấu và những tin tức trái ngược nhau.

Thư tôi nhận được lần đầu còn đọc được (không đề ngày, có nhiều chữ khó đọc, xin các bạn xem bản chính lá thư và hiểu giúp).  Vài thư sau càng khó đọc và đứt quãng một thời gian tôi không nhận được gì nữa, cũng không biết thầy ở đâu. Tôi đọc bức thư đầu tiên như sau:

“Thành thân yêu,

Đang nằm khóc cho vận nước thì được thư Thành lòng mừng khấp khởi may nhờ có Thành mà An Việt còn ghi lại được một kỷ niệm to lớn ở một nước mà cho tới nay ai cũng thấy là khó khăn vậy mà An Việt đã lập được cơ sở có nền tảng.

(Ghi chú thêm về điểm này:  An Việt Anh Quốc có 3 dự án: (1) An Viet Foundation, lo về Văn Hóa xã Hội, có một trụ sở lớn ở London (2) – An Viet Housing Association, một hội gia cư đầu tiên được chính phủ Anh tài trợ, trong 3 năm đầu đã xây được gần 200 đơn vị gia cư cho thuê nhà giá rẻ theo tiêu chuẩn của Chính Phủ Anh (3) – Viện Nghiên Cứu Việt Nho và Đông Nam Á với một thư viện đang xây dựng với khỏang 5-7 ngàn sách chuyên biệt về thời tiền sử Tàu Việt, Đông Nam Á với mong muốn trở thành một Ban, Ngành của Đại Học, giúp các sinh viên hậu Đai Học viết luận án về Việt Nam, và Đông Nam Á).  Thư Kim Định tiếp tục viết:

Chương trình tôi làm to lớn lắm không biết trời có cho sống để họat động không. Nó sẽ bao gồm cả tòan cầu.  Mỗi năm mời đồng bào về nước thăm họach định chương trình tiến mãi ở Đại Học Thái Bình Minh Triết.

Bệnh tôi bây giờ nó đứng đó.  Nhờ ngọai môn chữa thần kinh mà bệnh tê liệt không lan rộng. Tôi đã….. gần nửa năm nay đi chống gậy. ……… thì sẽ khỏi và cầm cự được ít lâu cho đến hết tháng tám âm lịch mới khỏi.  Nếu thực sự …. Thì … 1 tập sách nhỏ hướng dẫn người đọc Việt Nho.  … tài liệu mà Thành cho biết … gián điệp Pháp thì do tên Việt Minh (tên gì quên rồi biên lại cho nhé).  Bây giờ ngòai Bắc cho tiền tụi đóm điếu in thành sách “Lột Mặt Nạ”  nhưng chưa phổ biến rộng mà đả Kim Định… Nhưng xem đó …..chỉ tại một số cán bộ vào nam gặp rồi cố lùng mua cho đủ bộ.  Về đọc rồi phản mà tại sao Đảng ta không sản xuất được một người văn hóa lớn như thế này nên ……..hạ Kim Định đến đất đen.

Vẫn hy vọng trời cho khỏe để viết tập ….. Viết xong thì gửi cho Thành.  Đã có chữ quốc ngữ…..

Viết nhiều sợ không đọc được.  Chữ bây giờ như vậy đấy.

Thành cứ kiên tâm giữ vững An Việt London sẽ kể là trung tâm An Việt Âu Châu.  Mai ngày nó sẽ tồn tại mãi với non sông đất nước nhé.”

Tới đầu tháng 5 tôi được tin thầy về dưỡng bệnh tại Dòng Đồng Công ở Carthage, Missouri.  Tôi đã điện thọai 2 lần để hỏi thăm thầy.  Thầy nghẹn ngào không nói được gì.  Sau đó nhà Dòng Đồng Công không cho điện thọai liên lạc từ bên ngòai vào nữa.  Tôi chỉ biết tưởng nhớ và cầu nguyện cho ngài.

Tới đầu năm 1995, tôi nhận được thư của anh Vương Kỳ Sơn (15.3.1995) đính kèm dự án tái bản bộ Triết Lý An Vi và Việt Nho trong thư ngày 1 tháng 2 năm 1995 anh gửi cho Kim Định (xin xem thư đính kèm) và một thư sọan sẵn đứng tên tôi bằng Anh Ngữ đề An Việt Foundation in England, ngày 15.7.1995 yêu cầu tôi gửi cho thầy Kim Định để thầy ký tên nhượng quyền tái bản tòan bộ sách Kim Định cho Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam của anh. Anh Sơn cũng gửi tôi thư của Thầy Kim Định đề ngày 15.3.1996, anh nói không đọc được.  Tôi đọc được ít chữ thế này:

“ ….. Sơn người mượn quyển Chữ Thời và … Cửa Khổng.  Muốn làm như dự án thì anh phải là  người để tôi nói cho biết tại sao anh đưa ra dự án sai quấy .  Nếu anh làm như thế thì cánh Houston họ sẽ đưa ra Tòa bắt bồi thường”

(Tôi xin cắt đọan sau của thư này).

Qua thủ bút cuối đời này chúng ta biết rõ rằng bản quyền pháp lý các tác phẩm của Kim Định là do An Việt Houston nắm giữ.  Tôi cũng nghĩ rằng anh Nguyễn Duy Quang bảo quản tất cả các văn bản pháp lý này với thầy Kim Định.

Nhận được những tài liệu trên của anh Vương Kỳ Sơn, tôi không dám gửi cho Thầy Kim Định vì biết rằng thầy sẽ không chấp thuận.  Đặc biệt sửa lại sách của Thầy theo lối hàn lâm như làm footnotes và làm Index.  Tôi biết thầy rất ghét lối hàn lâm vì sách của thầy là những suy tư triết lý, diễn tả VIỆT ĐẠO phải như dòng suối tâm linh chảy ra, của tâm hồn chứ không phải của lý trí phân tích lý luận suông, tầm chương trích cú… Thứ hai, về tác quyền, anh đề nghị tác giả được 100 sách mỗi khi một quyển được tái bản.  Trời ơi,  Kim Định có bao giờ để ý đến tiền bạc đâu.  Ngay cách ăn mặc của cụ cũng nhất bộ áo dài.  Mấy ngày ở  với tôi ở Anh, tôi thấy cái áo cụ mặc rất cũ kĩ, tôi hỏi cụ, cụ bảo đã mặc từ hồi ở Pháp kia đấy, mấy chục năm mà vẫn chưa rách.  Tôi hỏi về nấu ăn, cụ bảo cháu nó cứ kho cho một nồi cá, ăn cả tuần với rau trong tủ lạnh, nước mắm sẵn đó là tươm tất lắm rồi.  Cơm có nồi điện nấu rất dễ, ăn được mấy ngày.  Bên Mỹ ai cũng làm quần quật ngày đêm, chẳng ai có thì giờ để lo nấu nướng.  Mình cũng phải tự túc như vậy.

Viết sách thì cụ cứ nằm ở giường lúc nào tỉnh thì đọc hay viết.  Lúc buồn ngủ thì thiếp đi.  Tỉnh dậy lại viết.  Giấy cụ dùng là tờ A4 cắt làm tư để viết, để sọan bài đi dạy.  Sau khi giảng cho Sinh Viên thì cứ để vậy đưa cho tôi chuyển cho ban đại diện sinh viên đánh máy bán bài cho sinh viên hay đưa cho nhà in Ra Khơi sắp chữ in sách.  Ở Đại Học Văn Khoa hồi đó, anh em sinh viên thuờng gọi đùa anh Đỗ Ngọc Yến (khi sang Mỹ làm Chủ Nhiệm báo Người Việt) và anh Bùi Hồng Sĩ là “lái cua” (in bài của các giáo sư bán cho sinh viên lấy tiền điều hành Tổng Hội Sinh Viên).

Năm vừa qua, tôi bỏ tiền nhờ bên Việt Nam đánh máy lại tòan bộ sách Kim Định với hy vọng được bỏ lên trang mạng An Việt cho mọi người đọc hoặc sau này in KIM ĐỊNH TÒAN TẬP.  Người đánh máy nói anh Vũ Linh ở San Jose Hoa Kỳ muốn xin một bản.  Tôi trả lời, hãy đợi để đọc lại, sửa chữa lỗi đánh máy và đưa hình, chữ Nho vào cho hòan chỉnh rồi phổ biến cho năm châu bốn biển cùng đọc chứ giữ độc quyền phổ biến làm gì.  Ít lâu sau thấy những sách tôi nhờ đánh máy, đã xuất hiện trên trang DUNGLAC.NET.  Anh Nguyễn Duy Quang hồi còn sống rất bực, nói với tôi rằng, Kim Định đã nhượng bản quyền cho An Việt Houston in và phát hành các sách Kim Định.  Các sách đã in cũng đã đăng ký với Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ, Dũng Lạc không được phỗng tay trên như vậy.  Anh Quang sẽ kiện ra Tòa.  Tôi năn nỉ xin anh Quang bỏ qua vì mục tiêu của An Việt là phổ biến Tư Tưởng Kim Định.  Dũng Lạc phổ biến trước cũng không sao.

Tôi nhớ lại sau ngày 30.4.1975 có dịp về miền quê xa xôi tại miền Nam, có lần đi thăm bạn bè, người quen vùng kinh tế mới, những lần đi tìm đường vượt biên ở Vũng Tàu Bà Rịa, Phan Thiết, Rạch Giá, Cà Mau … Lúc uống rượu uống trà, lúc nói về văn hóa, có người tiết lộ cho tôi biết, họ đã cất giữ kỹ lưỡng một số sách của Kim Định coi như gia bảo của mình.  Có người đi mượn của bạn về chép tay để nghiền ngẫm.  Tôi thật sửng sốt vì tư tưởng Kim Định đã đến cả với đa số thầm lặng, đến cả những nơi vùng sâu vùng xa.

Sau khi đến được Anh Quốc năm 1979, vợ con tôi còn ở lại Việt Nam, tôi đã nói gia đình gửi tòan bộ sách Kim Định cho tôi, lúc đó khỏang năm 1982.  May mắn thay, khi kiểm duyệt, mấy nhân viên bưu điện đã “xin” mấy cuốn đề tài dễ hiểu, nhưng tòan bộ sách Kim Định họ cho đi.  Ít lâu sau tôi nhận được đầy đủ.  Thật là một món quà vô giá cho tôi.

  1. LỄ AN TÁNG THẦY KIM ĐỊNH
    Thầy Kim Định mất ngày 25.3.1997 tại nhà dòng Đồng Công.  Anh Nguyễn Duy Quang và Vũ Linh báo tin tôi biết và sau đó gửi cho tôi một số tấm hình đám tang.  Tôi buồn rầu tiếc nuối một nhà văn hóa lớn đã ra đi, một người thầy đã để cả đời cho dân tộc.  Nhớ lại khi đọc Nguyễn Hiến Lê, tôi thấy ông không bao giờ ca tụng ai, thế mà ông đã viết ở đâu đó rằng, Kim Định là người yêu nước nhiệt tình nhất.

Vĩnh biệt xác thân nhỏ bé của người thầy yêu quí.  Nguyện linh hồn thầy phù trợ An Việt, phù trợ Việt Đạo cho ngày càng xiển dương khắp mọi miền đất nước để muôn dân đạt tới Thái Hòa.

Tôi cũng được nghe nói khi Thầy Kim Định sắp lìa trần, thầy có gửi Giáo Sư Linh Mục Phan Đình Cho và Giáo Sư Trần Văn Đòan 5 ngàn Mỹ kim để tóm lược bộ triết lý An Vi và dịch ra Anh Ngữ.  Tôi đã nói chuyện điện thọai với hai vị Giáo Sư này để hỏi về việc ấy nhưng được trả lời chưa làm được.  Nhân dịp cha Phan Đình Cho đi Bỉ, tôi bận công việc thành phố vì mới đắc cử Nghị Viên London năm 2002 không thể qua Bỉ gặp Giáo Sư Linh Mục PĐ Cho được.  Tôi đã nhờ anh Lê Hùng gặp ngài, nhưng cũng không có tin gì mới.  Trong thơ mời Đại Hội An Việt Tòan Cầu ngày 29.5.2003 anh Nguyễn Duy Quang cũng nhắc đến việc này trong thư mời.  (Xin xem tài liệu số 20 đính kèm).

Khi đã ủy thác việc này cho 2 vị Tiến Sĩ uyên bác thông thạo ngôn ngữ và tư tưởng Đông Tây vào bậc nhất, thầy hy vọng tư tưởng của thầy sẽ tới được thế hệ thứ hai để tiếp tục khai phá, vun trồng Gốc Việt và Đạo Việt mà thầy đã để cả đời gây dựng.  Mong lắm thay.

  1. KẾT LUẬN

Thầy Kim Định đã ra đi đúng 10 năm.  An Việt cùng với thời gian yếu dần đi trong số đó, mất mát lớn lao nhất là mất hai chiến sĩ nhiệt tình:

–          Anh Nguyễn Duy Quang (HoustonTexas)

–          Anh Trần Việt Văn          (HoustonTexas)

Một số anh em khác về già, đi vào An Vi Thiền Định, không họat động gì nữa.  Năm 2003 anh em bốn bể năm châu đã họp lại tại nhà anh Trần Quí Minh ở Florida bầu anh Minh làm Tộc Trưởng. Gia đình An Việt Anh Quốc anh Vũ Khánh Thành làm trưởng gia đình thường trực. Đã có Hiến Chưong Văn Lễ.  Dự định năm 2006 họp Đại Hội bầu văn phòng thường trực mới nhưng năm 2006 lại có Đại Hội văn hóa tại Úc, nhiều anh chị em tham dự Đại Hội này nên không tổ chức được.  Trong 10 năm qua An Việt Houston đã tái bản nhiều sách của Kim Định, ra mắt một số họat động của  anh chị em An Việt, ra báo Xuân, đặc san các ngày giỗ Thầy…. Đáng kể nhất là cuốn YÊU MẾN AN VI của chị Đông Lan.  Nội dung đúc kết tinh hoa 32 tác phẩm An Vi của Kim Định về Chủ Đạo Việt, xuất bản năm 2004 và chị đã thực hiện chương trình “Tìm hiểu triết Việt” trên đài Little Saigon tại Houston để phổ biến An Vi và Việt Nho.  Sau đó An Việt Houston tiếp tục chương trình phát thanh với anh Nguyễn Kim Luân.

Từ tháng 3 – 2006 đến hiện tại Chị Đông Lan lại thực hiện chương trình “Yêu mến An Vi” trên đài Tiếng Nước Tôi tại Houston và phát thanh lại tại khắp nơi trên thế giới với sự cộng tác của anh Lê Việt Thường (Lê Xuân Lộc) Úc Châu.

Một trang Web của An Việt Tòan Cầu đã được sửa lại và ra mắt ngày 25.3.2007 hôm nay, đánh dấu 10 năm ngày giỗ Kim Định.  Trang Web này chuyên viết hoặc sưu tầm các bài chuyên về Nguồn Gốc Dân Tộc và Triết Lý An Vi hay Triết Việt, Đạo Việt nói chung.  Trong thời gian thử nghiệm từ tháng 1/07 đến đầu tháng 3 (tròn ba tháng) số người vào trang web đã lên đến 12 ngàn người.  Điều này chứng tỏ nhu cầu tìm về Cội Nguồn Dân Tộc và Minh Triết Việt có cơ sở vững chắc được đón nhận.

Một Viện Nghiên Cứu về Việt Nho và Đông Nam Á cũng đang hình thành tại Anh Quốc.  với hy vọng trở thành một ban ngành của Đại Học, giúp các sinh viên hậu đại học viết luận văn Cao Học hay Tiến Sĩ về Việt Nam.  Cái khó khăn của Viện hiện nay là có thư mục sách đúng đường để tìm mua.  Thư viện đã mua được khỏang 2000 cuốn (tiếng Anh Pháp.  Một số ít tiếng Việt, tiếng Hoa, tiếng Đức).  Mong các bậc thức giả giúp đỡ giới thiệu sách cần mua.

Chúng ta vui mừng được thêm một số thân hữu yêu mến Triết Lý An Vi và Việt Nho từ trong nước lẫn hải ngọai cùng nhau đưa Đạo Việt và Nguồn Gốc Dân Việt chiếu rạng năm châu bốn biển,

Nhiều công trình lớn khác đặc biệt của Hùng Việt và Việt Nhân đã san định lại Tư Tưởng Kim Định thành những cuốn sách lớn như:

–          Đi Tìm Tư Tưởng Tiền Nhân

–          Việt Nho

–          Triết Lý Thái Hòa của Việt Tộc

Bộ Quốc Văn Giáo Khoa cũng đang được quí Anh Trần Quí Minh, chị Đông Lan và một vài anh chị em khác đang cố công hình thành.

Tại Anh Quốc, “An Việt, nguyệt san văn hóa, thông tin, nghị luận, cơ quan truyền bá triết lý An Vi”  báo ra đời đã được 11 năm, số đầu tiên tháng 10 năm 1994, tới nay (tháng 3 – 2007) đã ra được 139 số.  Mỗi số cố định 36 trang A4. Báo có 2 phần:  phần một là các bài về Việt Nho và An Vi, phần 2 là thông tin nghị luận, lấy lại một phần nguyệt san Thông Luận tại Pháp và các bài thời sự chính trị xã hội trên các trang mạng Web.  Tôi không dám gọi là báo vì thực ra phần thông tin nghị luận là cắt dán để đáp ứng nhu cầu ở Anh Quốc không có báo chuyên ngành về văn hóa và thời sự chính trị, xã hội mà chỉ có mấy tờ của Công Giáo (tên là Mục Vụ, nay đổi là Sống – nguyệt san), tờ của Phật Giáo (Hải Triều Âm), Thế Kỷ Mới, Hồn Việt, ra 3 tháng một lần.  Mới đây có thêm tờ Tri Thức Việt, nguyệt san, in rất đẹp tại Trung Quốc, phát hành tại London và Âu Châu, tin tức phổ thông dễ đọc cho quần chúng.

Cuối cùng từ 3 năm qua, anh em An Việt khắp nơi và Nhóm An Vi, nhóm Việt Học San Jose đã cộng tác với các hội đòan văn hóa, tập san Tư Tưởng tại Úc của Cố Luật Sư Cung Đình Thanh, tổ chức Đại Hội Văn Hóa.  Năm 2004 và 2005  tổ chức tại San Jose Hoa Kỳ.  Năm 2006 tổ chức tại Úc.  Năm 2007 dự trù tại NamCali.  Đó là những sáng kiến rất hay, những việc làm cần thiết.

Một việc rất quan trọng mà bất cứ ai trong chúng tôi cũng quan tâm là làm sao cô đọng học thuyết Kim Định lại được, đưa những dẫn chứng khoa học mới khám phá ra mà thời Kim Định chưa biết sau đó dịch ra anh Anh ngữ.  Đó là phần Việt Nho.  Phần triết lý An Vi chúng ta đã có cuốn sách của Đông Lan để truyền lại di sản tình thần cho các thế hệ sau tiếp tục con đường của Kim Định đã vạch ra rồi mỗi ngày mỗi bổ sung thêm những khám phá mới của khoa học.  Làm thế nào có giới trẻ kế nghiệp … Rất tiếc chúng tôi chưa tìm ra câu trả lời !!!

Tôi cũng báo tin thêm là Đại Học Oxford với Tiến Sĩ Stephen Openheimer và Đại Học Leeds với Giáo Sư Tiến Sĩ Martin Richards (Trưởng Khoa Biological Sciences, Giáo Sư Michael Hitchcock, Khoa Trưởng Khoa Văn Hóa và Du Lịch London Metropolitan University, người đã sống ở Indo, Malay … để nghiên cứu về người Đông Nam Á hàng chục năm và cựu Tiến Sĩ Ian Glovers Đại Học UCL (đã nghỉ hưu. )Các vị này đang hợp lực để nghiên cứu tòan bộ về nguồn gốc các dân tộc trên thế giới.  Những công trình đó sẽ được ra mắt không lâu, sẽ làm rõ thêm tư tưởng Kim Định.  Bốn Giáo Sư nêu trên đang cùng giúp An Viêt Anh Quốc trong việc hình thành Viện Nghiên Cứu Việt Nho và Đông Nam Á tại London và tổ chức Hội Nghị Thế Giới về Nguồn Gốc Bách Việt và Đông Nam Á vào năm 2008 .

Toi xin chấm dứt phần tổng kết về cuộc đời thầy Kim Định và An Việt nhân dịp lễ giỗ lần thứ 10 thầy Kim Định ở đây.  Xin chân thành cảm ơn tất cả quí vị xa gần.

VŨ KHÁNH THÀNH

An Việt Vương Quốc Anh

anvietuk@aol.com

Nguồn: http://minhtrietviet.net/hanh-trinh-kim-dinh-va-an-viet/

www.vietnamvanhien.org

 

LIÊN MINH DÂN CHỦ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc

                                                Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh

 Phong trào đấu tranh giải thể đảng CSVN bán nước hại dân trong nước Việt Nam đang phân thành hai nhánh, một bên công khai đấu tranh trong hòa bình, một bên âm thầm liên kết trong bí mật dùng bạo lực để thực hiện.

Là một quân nhân của MNVN tôi ủng hộ mọi hình thức đấu tranh giải thể đảng CSVN của những người dân trong nước và có suy nghĩ là nên sử dụng bạo lực mới sớm thành công nên viết bài này như một đóng góp với phong trào trong ý kiến thành lập cho được một Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc.

Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc này bao gồm những tổ chức đang đấu tranh dành lại quê hương đã bị Trung Cọng dùng bạo lực cưởng chiếm như Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông, đang bị Trung Cọng sử dụng âm mưu để cưởng đoạt như Việt Nam và kể cả những tổ chức đang đấu tranh để được sống trong một thể chế Dân Chủ tại Đài Loan và Hồng Kông.

Tại sao phải thành lập Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc ? Nhiệm vụ của Liên Minh này là gì ? là tâm điểm của bài viết này, mong các vị thức giả trong và ngoài nước bổ túc để kiện toàn nếu cùng suy nghĩ.

1.- Tình Hình đã chin mùi để thành lập Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc.

Kể từ lúc Tổng Thống Donald Trump ngồi vào Nhà Trắng đến nay chúng ta thấy :

a.- Một Liên Minh Quân Sự gốm bốn nước Hoa Kỳ, Ấn Độ, Úc Đại Lợi, Nhật Bản đang thành hình để bao vây và răn đe Trung Cọng trong một chiến lược gọi là Indo-Pacific.

b.- Một cuộc chiến tranh kinh tế do Hoa Kỳ phát động nhắm vào Trung Cọng đã bắt đầu.

c.- Ý tưởng chia Trung Cọng ra thành 5 quốc gia dể tránh hậu hoạn đã được bàn thảo ở Câu Lạc Bộ Bilderger vào ngày 29/5 và 1/6 năm 2014 tại Copenhagen, Đan Mạch. Đây là nhóm Siêu Quyền Lực gồm các tay tài phiệt và lãnh đạo ở Tây Phương nên các đồng minh của Hoa Kỳ ở Tây Phương sẽ theo chân Hoa Kỳ mở rộng chiến tranh kinh tế làm suy yếu Trung Cọng là điều rất dễ xảy ra.

d.- Một cuộc chiến tranh qui ước rất khó thành hình vì các bên tham chiến đều hiểu rằng vũ khí nguyên tử sẽ hủy diệt kẻ chến bại và cả người chiến thắng. Như thế Hoa Kỳ và Phương Tây chỉ có một cách duy nhất là mở một cuộc chiến không qui ước để làm cho Trung Cọng suy yếu. Nhu cầu chiến tranh không qui ước nhắm vào Trung Cọng đang nằm ở Hoa Kỳ và các nước Phương Tây nhưng vì luật pháp quốc tế, quốc gia và mối dây liên hệ trong bang giao không cho phép các chính phủ họ thực hiện vì vậy họ phải nhờ một tổ chức khác thực hiện giùm, đó là tổ chức Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc.

e.- Nhu cầu mở chiến tranh không qui ước với Trung Cọng còn nằm trong lòng những người mất quê hương như Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông, trong lòng những người Trung Hoa muốn sống trong một thể chế dân chủ ở Hồng Kong và Đài Loan và nhất là trong lòng những người đấu tranh trong nước Việt Nam muốn sử dụng bạo lực để giải thể đảng CSVN bởi lẽ dẩu cho họ đốt cháy cả nước Việt Nam cũng không thành công trong việc hạ bệ đảng CSVN vì đảng CSVN là con đẻ của đảng CSTQ. Đánh con không bằng bằng đánh cha, đánh địch trên đất địch hiệu quả hơn đánh địch trên đất mình. Do đó tổ chức Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc là mơ ước và là một việc cần thực hiện trong thời gian sắp tới của họ.

  1. Trung Quốc lâm đại nạn.

Nước Trung Quốc rộng 9.596.961 cây số vuông dân số khoảng gần 1,6 tỷ người. Dân tình thì hiền hòa, văn hóa đầy đặc sắc, vừa mắc phải đại nạn cọng sản gây ra cái chết khoảng trên 60 triệu dân chưa thoát ra được nay lại mắc thêm đại nạn khác là do giới chóp bu cọng sản trong nước còn mang một tư tưởng lạc hậu, tư tưởng Đại Hán, đã dùng bạo lực cưởng chiếm Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông vẫc chưa thỏa lòng tham, nay lại vừa mưu mô sử dụng Triều Tiên như một con bài để thương lượng vừa từng bước lấn chiếm thêm Biển Hoa Đông, Biển Đông và Việt Nam nên các nước lân cận lo sợ và các cường quốc phải tìm cách đối phó.

Tư tưởng Đại Hán thì cũng giống tư tưởng “phú quí sanh lễ nghĩa”. Muốn diệt tư tưởng ‘phú quí sanh lễ nghĩa” thì làm thằng có tư tưởng đó nghèo đi, muốn diệt tư tưởng Đại Hán thì làm giới chóp bu của Trung Cọng ngồi đứng không yên nơm nớp lo sợ cho sanh mạng và quyền lực của mình nên tham vọng bị teo lại và không có đủ khả năng và cơ hội xâm chiếm nước khác bằng cách tạo cho nước Tàu náo loạn do chiến tranh không qui ước.

Chiến tranh qui ước, chiến tranh không qui ước hay chiến tranh nào đi nửa trong thời đại khoa học kỷ thuật ngày nay thì sự tàn phá trở nên khốc liệt sẽ xảy ra với nước lâm vào chiến tranh hay nói cách khác là lâm đại nạn.

Chiến tranh Việt Nam ngày trước là một cuộc chiến tranh không qui ước. Mỷ không thể tuyên chiến Bắc Việt Nam hay Trung Cọng hoặc Liên Xô dù biết rằng 3 nước ấy đứng đằng sau Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Nước Việt Nam là một bải chiến trường nơi muôn ngàn tội ác được các bên tham chiến thực hiện mà nạn nhân là dân tộc Việt Nam.

Trung Quốc là một nước rộng lớn nhưng không thể trấn giữ được nhất là khi lâm vào chiến tranh. Phía Bắc là bình nguyên không thể phòng thủ, Phía Động là biển Hoa Đông mang họa ngọn gió Nồm giúp cho kẻ thù dễ dàng dùng Hỏa công. Phía Nam lại nhờ núi non hiểm trở che chở nên các nước phương Nam dễ phòng thủ đất nước mình mà khi muốn tiến công vào Trung Quốc thì có nhiều lợi thế. Phía Tây xa xôi khó tiếp vận mà lại có trên 8.000 quả bom mguyên tử (các đập nước) đang chở kẻ thù tháo ngòi nổ.

Trong nước Tàu đang chứa chấp hàng chục triệu nội thù, dân Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông chưa đồng hóa kịp. Phía Nam lại đang phát sinh ra 90 triệu kẻ thù người Việt Nam không bao giờ đồng hóa được với do cuộc cách mạng tin học đã phơi bày mọi dã man của Trung Cọng. Nền kinh tế thì quá lệ thuộc vào xuất cảng khi chiến tranh thương mại lan rộng hay bị các nước ngoài đồng loạt tẩy chay hàng hóa thì 1 tỷ 6 miệng người không có đủ đồ ăn dễ bề nổi loạn

Trung Cọng như một quả bong bóng căng tròn chỉ cần một cây kim chọc vào là phát nổ, cây kim đó là Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc.

 

3.- Phép đánh “Ngủ Hành”trong chiến tranh không qui ước ngày nay.

Khi thành lập được Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc thì tùy thời tùy khả năng mà hành động.

Ở đây tôi xin bàn sơ lược phép đánh “ngủ hành” (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) trong chiến tranh không qui ước hiện nay để bạn đọc thấy được sự hiện diện của Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Chủ là rất cần thiết.

a.- Sau khi tăng thuế quan của hai mặt hàng sắt và nhôm của Trung Cọng, vào ngày 22 tháng 3 Tổng Thống Donald Trump đã ký một biên bản ghi nhớ áp đặt hàng rào thuế quan lên đến 60 tỷ dollars vào hàng hóa nhập khẩu từ Trung Cọng và tuyên bố “ Đây chỉ là động thái đầu tiên của nhiều động thái “.

Chúng ta có thể phân tích hoạt động này là tổng Thống Donald Trump đã mở màn cuộc chiến tranh thương mại bằng phép đánh “Kim” để tăng áp lực lên Tập Cận Bình trên hồ sơ Triều Tiên. Hai nước lâm vào chiến tranh thương mại thì cả hai nước đều bị tổn thất nên Hoa Kỳ sẽ có nhiều đắn đo khi tăng thêm áp lực.

Nếu chúng ta có được tổ chức Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc trong tay, chúng ta có thể bồi thêm phép đánh “Kim” bằng cách thiêu rụi hai cơ sở Thị Trường Chứng Khoán của Trung Cọng để làm cho Tập Cận Bình mau xuống nước, trước vửa hổ trợ Hoa Kỳ sau vừa diệt bớt tham vọng bá quyền của giới chóp bu cọng sản Trung Cọng.

b.- Cuộc đấu tranh giải thể đảng CSVN bán nước và đối phó với đảng CSTQ cướp nước của toàn dân Việt Nam đang bước vào một khúc quanh mới. Con cháu của Hai bà Trưng, bà Triệu và hậu duệ của VNCH đã hiểu được lòng lưu manh của đảng CSVN và sự dã man của đảng CSTQ, đã nghe được tiếng gọi non sông qua các trang mạng xã hội và Youtube nên đã đứng dậy theo bước cha ông dành lại quê hương bằng nhiều cách, trong đó có phong trào “ Ba Sạch” do nử anh thư Lisa Phạm khởi xướng là một điểm son đang làm cho kẻ địch điên đầu.

Nếu chúng ta có được Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc thì chúng ta có thể đưa những kinh nghiệm sử dụng các trang mạng xã hội và Youtube trong đấu tranh của các nử anh hùng của dân tộc Việt Nam để giúp cho các tổ chức của Tây tạng, Tân Cương, Nội Mông, Hồng Kong, Đài Loan “ Khai dân Trí” của họ mà giành lại quê hương của họ hay sớm được sống trong thể chế dân chủ. Một người “ Khai dân Trí” không thành công nhưng trăm ngàn người “khai dân trí” thì mọi mưu ma chước quỉ của lũ quỉ cọng sản đều được phơi bày ra ánh sáng.

Phong Trào “Ba Sạch” là phong trào dùng “Hỏa” công để quyét sach kẻ thù trên quê hương Việt Nam. Ngày xưa Khổng Minh muốn sử dụng Hỏa công để đánh Tào Tháo trong trận Xích Bích phải đợi gió mùa nổi lên. Ngô Quyền muốn sử dụng Hỏa Công để diệt quân Nam Hán phải chờ lúc thủy triều dâng.

Ngày nay nếu chúng ta có được Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc và chúng ta muốn sử dụng Hỏa Công để đánh Trung Cọng thì chúng ta chỉ cần 1 chiếc xe van hở trần, một chiếc tàu ngụy trang trên biển là chúng ta có thể có thể mỗi đêm phóng lên bầu trời hàng vạn bong bóng bay chứa chất cháy, ngòi cháy đốt các thành phố, làng mạc, rừng cây gây nạn đói cả Trung Quốc làm lung lay chổ ngồi của những tên chóp bu trong tà quyền cọng sản Trung Quốc.

Khi Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc trưởng thành thì những chiếc xe bom không người lái, những chiếc máy bay chứa bom không người lái nhắm vào 8.000 đập nước để áp dụng cách đánh “Thủy” công là chuyện nhỏ như con thỏ.

  1. Tổ chức nào có khả năng thành lập tổ chức Liên Hiệp Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc.

Bất cứ tổ chức nào ở trong nước cũng không đủ khả năng thành lập tổ chức Liên Minh Giải Phóng Dân Tộc.

Rất nhiều tổ chức của Người Việt Hải Ngoại có đủ khả năng thành lập tổ chức Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc, nhất là các tổ chức Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia ở phía Đông Bắc nước Mỹ đã có liên hệ rất mật thiết với các tổ chức đấu tranh Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông.

Tổ chức Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc sẽ chỉ là một địa điểm giao lưu để rút kinh nghiêm giữa những tổ chức muốn giải phóng dân tộc đang bị Trung Cọng cưỡng chiếm hay đang mưu mô cưởng chiếm? Tổ chức Liên Minh Giải Phóng Dân Tộc sẽ là một trung tâm điều khiển những hoạt động chiến tranh không qui ước nhắm vào Trung Cọng? Tất cả những gì sẽ là Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc đều tùy thuộc vào những hoạt động của những người sẽ ngồi trong đó.

Nếu ai có ý kiến hay phương pháp nào để giảm thiểu được lòng tham lam và tư tưởng Đai Hán của giới chóp bu trong tà quyền Trung Cọng thì xin bỏ qua ý kiến này. Nếu không có thì xin góp một bàn tay để thành lập cho được tổ chức Liên Minh Dân Chủ Giải Phóng Dân Tộc, trước là chuyển lửa “Ba Sạch’ vào Trung Cọng sau là thiêu rụi tà quyền Trung Cọng và Việt Cọng, những tà quyền không có tính chính danh vừa thâm độc vừa tàn ác như loài quỉ nên là mục tiêu cần tiêu diệt của các thiên thần trẻ tuổi.

Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh

www.vietnamvanhien.org

 

 

NỖI LÒNG DÂNG MẸ VIỆT NAM

 

NỖI LÒNG DÂNG MẸ VIỆT NAM !
       (Quốc Hận 2018)  

  Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

 

Bốn mươi ba năm rồi

Con vẫn đi tìm MẸ.

Vết thương mồ côi còn hoen máu lệ

Bao đêm ác mộng bùng lên.

Giữa trùng dương thuyền như lá lênh đênh

Con quỳ lạy khi tầm xa quê cũ.

Trời lưu vong tượng đá đầy rêu phủ

Góc công viên con gọi MẸ, đâu rồi ?

Con đã về  : – tìm hơi ấm trong nôi

Ôm tay MẸ, sống nguyên đời thơ dại.

Viên gạch lót đường, xuyên rừng đêm biên ải

Phút sa cơ, con thấy MẸ bên mình.

Đời trung niên hằn dấu ấn điêu linh

 Trong ngục tối, máu đen thành mực viết.

Xin dâng MẸ, dòng Thơ con tha thiết

Chỉ cầu mong tồn tại, tiếp Lên Đường.

Rồi hôm nay, nhìn lại cảnh quê hương

Con vẫn thấy MẸ cằn khô áo rách.

Tóc bạc cuối đời, con vẫn xin làm gạch

Lót đường đi cho thế hệ Em-Con.

Xin MẸ thương con, dù sức yếu mỏi mòn

Nâng con dậy, không quay đầu bỏ cuộc.

Bạn bè con theo tuổi đời bay vút

Bóng cô đơn còn lại giữa đêm trường.

Dù ngày mai theo tiếng gọi Vô Thường

Hồn con vẫn cá Hồi quay tìm MẸ.

Con sẽ về – hòa chung cùng Tuổi Trẻ

Thét vang lên đòi lại Quyền Người.

Đồng hành bên nhau, vang vọng tiếng cười

Quỳ ôm MẸ giữa trời Xuân Dân Tộc.

Tuổi hoàng hôn, con không còn tiếng khóc

Nhưng vẫn còn nguyên vẹn máu hồng tim.

Hơn bốn mươi năm, con còn mãi đi tìm

Hình bóng MẸ nuôi đời con Trung Nghĩa.

Cách không gian nhưng cùng chung tuyến địa

Con nguyện lòng theo bước MẸ ngày đêm.

Con không về – khoe cảnh sống ấm êm

Nơi xứ lạ lãng quên hồn Tổ Quốc.

Không làm khách nhàn du giữa nguồn đau Dân Tộc

Thản nhiên nhìn bao bạo ngược tàn hung.

Đến cuối đời xin tâm nguyện cùng chung

Bao thế hệ lau khô dòng lệ MẸ.

Đất Nước hồi sinh giữa trời Xuân muôn vẻ

  Như nghìn xưa theo MẸ lúc lên non.

Hoa Nhân Bản, viết lại Sử vàng son

Dâng lên MẸ – xin vuông tròn Đạo Lý.

Phút tàn hơi chỉ mong lòng toại ý

Được quỳ hôn từng mảnh đất Quê xưa.

Đàn Cháu Con thôi dãi nắng dầm mưa

Trời lại sáng, đường tương lai rộng mở.

Ngẩng cao đầu, nhịp hòa chung hơi thở

Cùng năm Châu sống đẹp với Nhân Quyền.

MẸ VIỆT NAM ! Cho con vẹn lời nguyền

Chung góp sức, trọn đời xin dâng MẸ !.

Hơn bốn mươi năm, trầm luân dâu bể

Vẫn nguyện tình chung thủy với Quê Hương.

 Võ Đại Tôn

Hải ngoại, 43 năm Quốc Hận – 2018.

  www.vietnamvanhien.info

 

 

HÃY TRẢ TỰ DO CHO LÊ THU HÀ, TRƯƠNG MINH ĐỨC, NGUYỄN TRUNG TÔN, NGUYỄN VĂN ĐÀI, PHẠM VĂN TRỘI và NGUYỄN BẮC TRUYỂN. nhà cầm quyền cầm tù tùy tiện những người yêu nước, thương dân!.

HayTraTuDoCho6ThanhVienHAEDC

PHÍA SAU MẶT TRẬN

    PHÍA SAU MẶT TRẬN

   Triệu Vũ

 LGT:Triệu Vũ là bút hiệu cựu Thiếu Tá Vũ Ngự Triệu, khóa 19 Quân Nhu, chức vụ cuối cùng Đại Đội trưởng Đại Đội 5 Công Vụ, Sư Đoàn 5 BB. Sau 1975, ông bị tù trong nhiều trại cải tạo miền bắc, và mất nửa bàn chân trong một tai nạn lao động.

Dù đã tám mươi tuối ta, Triệu Vũ vẫn đang cố gắng hoàn tất một hồi ký về đất nước, dân tộc, như một di sản cho con cháu và thế hệ trẻ. Văn phong bình dị, nhưng chuyên chở những tư tưởng vượt qua biên giới quốc gia và chủng tộc, Triệu Vũ đã được nồng nhiệt đón nhận từ nhiều năm qua.

 

Đây là lần thứ 27, gia đình tôi mừng Lễ Tạ Ơn tại Hoa-Kỳ. Tiết trời đã ở cuối thu. Những cây sồi dọc hai bên đường, tàn lá phủ màu đỏ, màu vàng, dưới bầu trời xanh lơ tạo nên bức tranh tuyệt vời. Tạo-Hóa quả là một danh họa đại tài! Công sở nghỉ, hãng xưởng nghỉ, trường học cũng đóng cửa nên các con, các cháu có dịp họp mặt đông đủ trong phòng khách của căn nhà nhỏ . Đại gia đình chúng tôi ba thế hệ, hòa mình vào không khí vui vẻ, đầm ấm, trong khi bên ngoài, ngọn gió heo may se lạnh thổi về, đong đưa cành lá .

Hàng năm, cứ đến dịp Lễ Tạ Ơn, báo chí đăng nhiều bài viết, các cơ quan truyền thanh, truyền hình dành nhiều thời lượng để nói về ý nghĩa, nguồn gốc của lễ hội này. Đây cũng là thời điểm  của “ mùa mua sắm” nên các cơ sở thương mại đưa ra nhiều quảng cáo hấp dẫn để thu hút khách hàng.  Nhớ lại, đầu mùa Xuân năm 1990, sau mười lăm năm sống trong tủi nhục, đọa đầy, phân biệt đối xử; gia đình bẩy người, vợ chồng tôi và năm đứa con, như có phép lạ, được đến định cư tỵ nạn tại thành phố lớn hàng thứ tư của Liên Bang Mỹ, có tên gọi thân thương“thành phố nắng ấm tình nồng” và tám tháng sau, đón mừng Lễ Tạ Ơn lần đầu tiên .

Rời quê hương yêu dấu, mang tâm trạng của người bị lưu đày biệt xứ, không hy vọng có ngày trở về, đến sinh sống trên một đất nước hoàn toàn xa lạ, từ tiếng nói, con người, phong tục tập quán v .v.Làm sao  tránh được những hoang mang, lo lắng, ưu tư. Chúng tôi đã bỏ lại tất cả ngoại trừ nghị lực và quyết tâm. Có thể nói gia đình tôi đã khởi đi từ dưới số không. Con đường trước mặt có biết bao chông gai, vất vả. Với tuổi đời đã ngoài năm mươi, lại gánh chịu thương tật trong thời gian bị giam cầm ở miền Bắc Việt Nam; nhưng vì trách nhiệm dẫn dắt một gia đình lớn, giống như “ thuyền trưởng trong chuyến hải hành” nên dù cho khó khăn đến đâu, vất vả thế nào và  không có chọn lựa nào khác, chúng tôi phải quyết tâm vượt qua, hướng về phía trước để có thể đứng vững trên đôi chân của mình nơi xứ người …

Thoắt đã trên một phần tư thế kỷ! Hơn hai mươi bảy năm trong dòng sinh hoạt của xã hội mới, phải “vật lộn” với công việc  để kiếm “đô la”. Cũng vì ý nghĩa này mà mấy ông nhà văn, nhà báo, một chút ái ngại và châm biếm, phong cho những người mhư chúng tôi danh hiệu “đô vật”. Đành rằng đó là sự thực nhưng nghe sao  xót xa quá chừng! …Ôi biết bao kỷ niệm!  Khi vui, lúc buồn.  Đã  bao lần hồi hộp lo sợ, căng thẳng khi đối diện với nhiều vụ tấn công của những tên “côn đồ xấu xí có vũ trang”.   Cũng có lúc cảm thấy sung sướng và thầm tạ ơn Trời, tạ ơn Người đã cho gia đình tôi có cơ hội được …”sống”, như  khi tham dự  lễ tốt nghiệp ở các trường trung học, đại học và những dịp tổ chức  lễ  thành hôn cho các con …

Người ta thường nói người già hay tìm về dĩ vãng và thích sống trong kỷ niệm.  Có những kỷ niệm mờ nhạt dần theo thời gian, nhưng cũng có những kỷ niệm là dấu ấn hằn sâu, tồn tại, đồng hành tới cuối đời. Trong căn phòng nhỏ tràn đầy không khí vui tươi đầm ấm và an bình của ngày lễ hội, tôi lâng lâng, mơ màng nhớ về những kỷ niệm xa xưa. Cũng vào dịp cuối thu, hơn năm mươi năm về trước, đúng vào hạ tuần tháng mười một 1965, tính ra tôi mới về phục vụ tại Đại đội Quân Nhu thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh được hơn hai tháng, sau khi tốt nghiệp khóa 19 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ-Đức. Đơn vị của tôi nằm trong  vòng đai căn cứ Phú Lợi, nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, 5km phía đông tỉnh lỵ Bình-Dương.Thời điểm này người dân Mỹ đang nô nức hân hoan mừng Lễ Tạ Ơn.  Thực sự lúc ấy tôi không có một ấn tượng nào về lễ hội này.  Hơn nữa, đất nước nhỏ bé của tôi, nhỏ bé nhưng khổ nạn triền miên nên người dân làm gì có thì giờ nghĩ đến những lễ hội đặc biệt ở một xứ sở quá xa như Hoa-Kỳ.  Ngoài việc lao động cực khổ để mưu sinh, người dân nước tôi còn phải đối diện với thảm họa chiến tranh mỗi ngày thêm ác liệt trên khắp chiến trường miền Nam.  Đặc biệt năm 1965, tình hình chính trị cũng như quân sự tại miền Nam rất xáo trộn và đi vào ngã rẽ bất lợi. Từ việc  chính phủ dân sự giao quyền điều hành đất nước cho quân đội đến những trận giao tranh, đụng độ lớn ngoài chiến trường khiến người dân lo lắng hơn và càng thấy  bất an trong cuộc sống.  Cũng từ năm 1965, nếu không có sự can thiệp trực tiếp của binh đội tác chiến Mỹ, không biết số phận Miền Nam Việt-Nam đã đi về đâu ?…

Sáng hôm ấy, buổi họp tham mưu trên Sư-Đoàn kết thúc sớm hơn thường lệ.  Ông đại đội trưởng, Đại Úy Hà, về tập họp đơn vị, thông báo lệnh của Sư-Đoàn chỉ thị Đại Đội Quân Nhu của chúng tôi phải đưa ngay Trung Đội Chung Sự và tất cả túi đựng xác hiện có lên vùng hành quân gấp; đồng thời phải cử sĩ quan thường trực tại đó để chỉ huy và liên lạc. Lúc bấy giờ, Đại Đội Quân Nhu Sư-Đoàn, theo bảng cấp số có 3 sĩ quan: Đại Đội Trưởng (cấp số Đại Úy), Đại Đội Phó (cấp số Trung Úy) và Sĩ Quan Tiếp Liệu kiêm Thanh Tra (cấp số Trung Úy). Trung Đội Trưởng là các Hạ sĩ Quan.  Có lẽ vì hiểu được công tác lần này rất quan trọng, hơn nữa ông Tư Lệnh Sư-Đoàn và một số trưởng phòng đang có mặt tại vùng hành quân, nên Đại Úy Hà yêu cầu Chuẩn Úy Lành, khóa 17 Sĩ Quan Trừ Bị, về đơn vị trước tôi một năm, hiện là Đại Đội Phó và tôi, cũng Chuẩn Úy, Sĩ Quan Tiếp Liệu kiêm Thanh Tra, mới về đơn vị đươc hơn hai tháng,  cùng theo ông lên vùng xảy ra chiến sự.

Sau một tiếng đồng hồ chuẩn bị, chúng tôi có mặt tại sân bay dã chiến Phú-Lợi .  Không biết sân bay thiết lập từ bao giờ, rất đơn sơ.  Cả ngàn tấm vỉ sắt ráp lại thành một phi đạo theo hướng bắc nam, dài khoảng hơn một ki-lô-mét, nằm phía trong vòng đai phòng thủ ngoài  cùng của căn cứ.  Căn nhà tiền chế dùng làm “phòng đợi”, bên hông phi đạo, có chừng mươi  hành khách, quân nhân có, dân sự có; không nghe tiếng nói cười ồn ào, ai nấy nét mặt đăm chiêu, lo lắng. Ông Đại Đội Trưởng bận liên lạc với Sư Đoàn trong khi Chuẩn Úy Lành, tôi, và trung đội Chung Sự của Thượng Sĩ Quang, có tăng cường thêm một số quân nhân của trung đội khác, tất cả trên ba chục người tập trung bên ngoài căn nhà tiền chế cùng quân trang dụng và hai trăm túi đựng xác.

Đã hơn chín giờ sáng, bầu trời như có mây có khói quyện trong ánh nắng cuối thu . Trên những vùng cỏ xanh dọc theo phi đạo, vẫn còn lấp lánh những hạt sương . Bất ngờ,  từ hướng bắc xa xa, âm thanh quen thuộc của cánh quạt trực thăng vọng về, mỗi lúc một lớn dần. Vài quân xa loại nhỏ đang tiến vào sân bay. Lại thêm một chiếc xe jeep hồng thập tự của Đại Đội Quân Y hối hả theo sau . Mọi người hướng lên bầu trời. Một chiếc trực thăng lao tới, đảo một vòng cung nhỏ, hạ thấp cao độ rồi từ từ đậu kế bên phi đạo, trên nền xi măng rộng có chữ H thật lớn sơn màu trắng, phía trước chúng tôi.  Cánh quạt trực thăng chưa ngừng hẳn, xe jeep hồng thập tự tiến lại, quay đuôi xe đến gần cửa phi cơ.  Rất nhanh nhẹn và nhịp nhàng, hai quân nhân của Đại Đội Quân Y mang chiếc “băng ca” đến nhận thương binh.  Có nhiều người lại gần phi cơ.  Người thương binh không kêu la rên rỉ, mặt xạm đen, nằm bất động như đang ngủ say. Có vết máu thấm qua nhiều lớp vải băng quấn quanh đầu. Bộ quân phục tác chiến trên người chưa bị nhàu nát, với hai bông mai bạc(Trung Tá) vẫn còn gắn trên cổ áo; một bàn chân mang vớ (tất) màu trắng, bàn chân kia đã xỏ trong giầy da cao cổ nhưng chưa cột dây. Có những tiếng khóc, nức nở nghẹn ngào …Không ai ngờ rằng người thương binh nằm trên “ băng ca” ấy là vị Trung Tá Trung Đoàn Trưởng, đã tử thương vì trúng mảnh đạn pháo của địch, được đưa gấp từ mặt trận về…..Xe hồng thập tự và đoàn xe chở thân nhân người  “vừa nằm xuống” vội vã rời sân bay. Chứng kiến trực thăng đưa về một vị chỉ huy chiến trường bị tử thương, trong tư thế chưa sẵn sàng chiến đấu và nhìn những túi đựng xác lạnh lùng vô cảm nằm trên bãi cỏ, tôi thấy bùi ngùi xót xa .  Một chút bâng khuâng, tôi nghĩ về trận chiến đang xẩy ra trên vùng hành quân . . .

Hơn mười giờ sáng, phi cơ vận tải quân sự loại nhẹ đổ chúng tôi xuống sân bay đồn điền cao su Michelin, khoảng hai cây số bắc thị trấn Dầu-Tiếng, quận lỵ của quận Trị-Tâm, cách tỉnh lỵ Bình-Dương trên năm mươi cây số. Đại Úy Tấn, Trưởng phòng Tư  Sư-Đoàn, chờ đợi tại sân bay và chỉ định nơi tạm trú cho đơn vị tôi tại Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư-Đoàn, nằm sát thị trấn.  Ông cũng nhắc lại lệnh của cấp trên là đơn vị chúng tôi phải vào ngay vùng mới xảy ra trận đánh đêm qua, để thu lượm thi hài các quân nhân tử trận.  Ông cho biết thêm chiến sự lắng dịu, địch đã rút lui từ tờ mờ sáng. Hiện có lực lượng Biệt Động Quân đang lo việc an ninh xung quanh, họ sẽ ra khỏi vùng lúc 5 giờ chiều. Sau đó, ông giới thiệu Trung Úy Hậu thuộc Đại Đội Chỉ Huy và Công Vụ của Trung Đoàn 7, người sẽ liên lạc với chúng tôi trong thời gian công tác .

Sân bay của đồn điền giờ này rất đông quân nhân. Có những nhóm nhỏ năm ba người dân thường tụ tập, bàn tán. Họ là gia đình của những quân nhân tham dự trận đánh đêm qua, lặn lội từ xa, đến đây trông ngóng tin tức người thân . Những tiếng rít xé rách không gian của oanh tạc cơ truy quét địch quân, những tiếng ì ầm của bom đạn còn vang vọng lại. Ông Đại Tá Tư-Lệnh Sư-Đoàn mang kính đen, ngồi bất động trên xe jeep, hướng ra phi đạo. Trong khi chờ trực thăng đưa vào địa điểm công tác, Trung Úy Hậu tâm sự: Đúng một tuần lễ trước đây, Trung-Đoàn 7 đã lập công lớn, đánh tan một trung đoàn địch và đêm qua tổ chức lễ khao quân. Nào ngờ địch tái phối trí, bất thần tấn công phục thù vào lúc mọi người đang  “say sưa” trong chiến thắng. Địch khởi sự tiến đánh lúc hai giờ sáng. Vẫn chiến thuật cổ điển tiền pháo hậu xung. Mở màn là những trận mưa pháo. Không biết địch có cài tiền sát viên nội tuyến hay chăng, mà phần lớn đạn pháo của địch rơi rất gần Bộ Chỉ Huy và các đơn vị bảo vệ xung quanh . Sau đó  địch tấn công phá vỡ tuyến phòng thủ phía đông và bắc, tạo thành hai mũi nhọn, tiến thẳng vào. Trung Úy Hậu ngừng kể vì lúc ấy có đoàn trực thăng xuất hiện trên bầu trời và ít phút sau, Đại Úy Tấn phòng tư, Đại Úy Hà, Trung Úy Hậu và chúng tôi đã nhanh chóng ngồi trên bốn chiếc trực thăng đưa  đến địa điểm công tác, nơi mà đêm qua đã tổ chức tiệc khao quân mừng chiến thắng. Từ trực thăng nhìn xuống, rừng cao su bạt ngàn phía dưới, chia thành những lô tựa như ô vuông của một bàn cờ. Có những làn mây trắng mỏng lướt trên ngọn cây.  Khu vực này nằm trong tầm súng cối từ Dầu Tiếng, có tên gọi khá đặc biệt “làng 13 Bis”,nơi sinh sống của những người phu cạo mủ của đồn điền. Họ nằm trong số hàng chục ngàn người được thuê mướn từ miền Bắc, miền Trung, dưới thời Pháp thuộc, từ nửa đầu thế kỷ hai mươi, đưa vào phục vụ cho các đồn điền cao su ở miền Nam Việt Nam với tên gọi “dân mộ phu Nam Kỳ”. Cái tên gọi làng 13bis, dĩ nhiên với những ai tham dự trận đánh năm nào, nếu còn sống sót, chắc không thể quên. Riêng tôi, mấy chục năm sau, dù cuộc chiến đã đi vào dĩ vãng, vẫn chưa tìm hiểu tại sao lại có tên làng 13Bis? Tôi cũng chưa có dịp đặt chân đến làng 13Bis lần thứ hai. Không biết địa danh này và con số 13 có liên hệ gì đến số phận của những người đã nằm xuống ?

Trực thăng hạ cánh trên con đường đất phân ranh lô cao su, thả chúng tôi xuống rồi bay đi.  Đã có gần chục chiếc xe vận tải dân sự mui trần, được trưng dụng, đậu trên đường để chở thi hài ra sân bay. Hai bên thành xe và hai bên cánh cửa phòng lái tài xế, có sơn tên công ty cao su.  Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn đặt trong căn nhà gạch lớn, nằm giữa bãi cỏ rộng, sát đường đất phân lô; xung quanh có pháo đài và ụ chắn bằng bao đựng cát. Hai bên và phía sau tòa nhà là rừng cao su thẳng hàng cao vút. Đó đây, thấp thoáng trong rừng cao su, vẫn còn những cụm khói vươn lên, nhưng không qua khỏi tàn cây.

Chúng tôi chia thành 5 toán,  từ trung tâm là chỗ đậu xe vận tải, đi dần ra vòng đai bên ngoài. Trong tầm nhìn một vòng tròn bán kính khoảng hơn trăm mét, quanh nơi đặt Bộ Chỉ Huy, hàng trăm xác nằm la liệt dọc theo đường mương hai bên con đường đất, dưới gốc cao su, trên miệng hố cá nhân, trong đám cỏ xanh.  Rải rác quanh đây có những xác địch chưa kịp mang đi. Dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, cảnh tượng ấy vẫn còn nguyên trong trí nhớ. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc thu lượm. Có xác nằm sấp, úp mặt xuống đất, một tay bám vào chiếc nón sắt dùng làm nồi đựng gạo, chưa kịp nấu thành cơm.  Có xác nằm ngửa,  tay chân dang rộng, đôi mắt còn hé mở, như muốn nhìn thêm lần nữa cảnh vật trên trần thế. Có những xác nằm đè lên nhau giống hình chữ thập. Cũng có xác phần thân thể phía dưới còn trong hố cá nhân, đầu, mình và hai tay trên mặt đất, trong tư thế sẵn sàng nhả đạn . Có xác gục đầu, bó gối, chết trong hố cá nhân, phải khó khăn  mới đưa lên được. Lại có xác ngồi  tựa lưng vào gốc cây, đầu ngả sang một bên, như đang ngủ gục. Xúc động hơn nữa là khi lượm những xác không còn nguyên vẹn. Nhưng rất may, chúng tôi gom lại được những phần thiếu sót như cánh tay hoặc những ống chân  v.v vướng trên các cành cây cao su hoặc trong đám cỏ gần đó. Không biết có văn bản nào quy định tư thế một người khi lìa trần?  Nằm sấp, nằm ngửa, nằm nghiêng..? Lại còn y phục nữa? Quần áo che thân đầy đủ hay…giống như một số xác địch để lại chiến trường, chỉ một chiếc áo bà ba đen ngắn tay và một chiếc quần đùi màu đen khi ra mặt  trận, để đổi lấy danh xưng anh hùng “sinh bắc tử nam” hoặc âm thầm làm phân bón những gốc cao su!  Bên cạnh những xác người, trận địa còn vương vãi lăn lóc những chiếc nón sắt, những đôi giầy trận, những chiếc gà men đựng cơm v.v. Đặc biệt có vài ba đôi giầy phụ nữ gót cao và  những chiếc ví da xách tay loang vết máu … . Năm ấy tôi đã 26 tuổi; không phải lần đầu trong đời nhìn thấy xác chết. Tôi vẫn nhớ nạn đói xảy ra ở miền Bắc Việt Nam năm 1945 mà người ta gọi là nạn đói tháng Ba năm Ất Dậu, cướp đi cả triệu mạng sống.  Tôi đã thấy người chết được rắc vôi, phủ bằng tấm chiếu hoặc tấm vỉ đan bằng cói trên những xe bò, do người kéo đi chôn.  Đến cuối thập niên 1940, vì tò mò theo người lớn đi xem đội “Việt Hùng” của Việt Minh xử những người mà họ gọi là “Cường Hào Ác Bá”, tôi đã thấy những xác người bị cắt ngang cuống họng, có xác bị móc hai mắt, nằm phơi mình trên bờ ruộng, bờ ao.  Thuở ấy, tuy là một đứa bé, chưa biết biểu lộ xúc cảm trước cảnh thương tâm, nhưng hình ảnh các tử thi đã in vào trí não. Gần hơn nữa, chỉ ít tháng trước ngày mãn khóa, khi còn là Sinh Viên Sĩ Quan, chương trình huấn luyện có những buổi đến thăm viếng và thưc tập ở đơn vị Chung Sự, nằm trong Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp  (Lúc đó chưa có Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa). Thực tình cờ, tháng 6-1965 chúng tôi theo lịch huấn luyện, đến thăm nghĩa trang đúng vào thời điểm xảy ra trận chiến Đồng-Xoài, cách Saigon khoảng tám mươi cây số về hướng đông bắc, thuộc tỉnh Phước-Long.  Phòng lạnh để ướp xác đầy ắp, không còn chỗ trống.  Thi hài quân nhân tử trận mang về, chờ tẩm liệm, phải để tạm trong nhà quàn, phòng tang lễ, ngoài hành lang v.v. Trở lại quân trường, trong phòng ăn của sinh viên; bữa cơm trưa hôm ấy, nằm giữa những cọng giá xào, nổi bật màu nâu tím và bóng láng của những miếng gan heo, tôi liên tưởng đến màu da của các thi hài trong phòng lạnh ướp xác ở nghĩa trang nên không thể thản nhiên nuốt trôi hạt cơm …

Tốc độ thu lượm khá nhanh và gọn vì các thi hài  nằm xung quanh  Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn rất gần nơi đoàn xe đang đậu. Hơn nữa tử thi còn mềm nên khi để vào túi đựng xác, có thể đặt nằm ngay ngắn, kéo “phẹc mơ tuya”, di chuyển và để lên xe vận tải dễ dàng.  Đại Úy Tấn phòng Tư và Đại Úy Hà cũng phụ đưa túi xác đến gần xe. Nhưng chưa lượm hết tử thi quanh Bộ Chỉ Huy và đơn vị phòng thủ phía trong, số túi xác mang theo chỉ còn một nửa .  Đã hai giờ trưa . Đại Úy Tấn và đại Úy Hà được một trực thăng  đón ra Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Trung Úy Hậu Trung đoàn 7 ở lại làm việc cùng chúng tôi.  Trước khi đi, hai ông yêu cầu công tác thu lượm tiến hành nhanh hơn và tập trung lên xe vận tải, di chuyển ra sân bay trước 5 giờ.  Đại Úý Tấn còn cho biết sẽ xin Quân Nhu bổ sung túi đựng xác. Bổ sung túi đựng xác !! Câu nói này tôi nghe chưa quen ! Quân Nhu không là đơn vị trực tiếp chiến đấu ngoài chiến trường . Quân Nhu lo cho quân nhân từ ngày đầu tiên nhập ngũ . Thực phẩm, quần áo, mùng mền v.v. là những nhu cầu trước tiên. Phải ăn no mặc ấm mới có sức đánh giặc. Khi hy sinh đền nợ nước, Quân nhu sẽ lo nơi yên nghỉ cuối cùng, mồ yên mả đẹp. Thông thường, các đơn vị chỉ xin tiếp liệu phẩm ngành Quân Nhu như gạo, lương khô, quân trang, xăng dầu v.v. Thực hiếm khi nghe có binh đoàn  xin bổ sung túi đựng xác,  món hàng có chỉ danh “ đẹp” nhưng chẳng ai thích nhắc đến và dĩ nhiên không ai muốn sử dụng nó …

Chúng tôi mỗi lúc một đi xa đoàn xe vận tải. Hình như khiêng một người còn sống nhẹ hơn khiêng một xác chết bất động nên công việc thu lượm có chậm hơn trước.  Ra tới vòng đai phòng thủ thứ nhứt, túi đựng xác đã hết. Công việc  tạm ngừng và tất cả thi hài đã chất lên xe. Kiểm điểm lại quân số xong, chúng tôi nhanh chóng phân chia đứng trên các xe vận tải rời khỏi khu vực này. Trời cuối thu, ngày ngắn dần. Những đám mây xám đục di chuyển chậm chạp trên bầu trời. Cảnh vật đang chìm dần vào hoàng hôn. Khi đoàn xe về đến sân bay, hai phi cơ vận tải quân sự đã chờ sẵn. Chia thành hai toán, chúng tôi lại khiêng túi xác từ xe tải chất vào trong phi cơ, xếp ngay hàng thẳng lối xong, trời đã tối . Hai phi cơ rời Dầu Tiếng, bay về phi trường quân sự Tân Sơn Nhất .  Đại Úy Hà đã theo trực thăng về đơn vị từ chiều, giao lại chúng tôi dưới sự điều động trực tiếp của Đại Úy Tấn phòng Tư. Thị trấn Dầu-Tiếng xa xôi hẻo lánh, mới 8 giờ tối mà như khuya lắm.  Mọi người mệt mỏi chìm vào giấc ngủ sau khi dùng một trong hai khẩu phần lương khô mang theo.

Sáng hôm sau, chúng tôi ra sân bay nhận thêm một trăm túi đựng xác. Đồng thời nhận thêm một trăm poncho(áo mưa), từ Đại Đội gửi lên để phòng hờ khi cần. Hôm nay chỉ có Trung Úy Hậu thuộc Trung Đoàn 7 đi cùng chúng tôi. Trước khi khởi hành, Đại Úy Tấn Phòng Tư Sư Đoàn yêu cầu việc thu lượm phải hoàn tất trong ngày hôm nay. Đoàn trực thăng đưa chúng tôi vào vùng sớm hơn hôm qua trong khi những  xe vận tải đã vào làng 13bis từ mờ sáng .

Hôm nay việc thu lượm khó khăn hơn vì tầm hoạt động rộng và đoạn đường đem thi hài ra xe vận  tải xa hơn. Chúng tôi vẫn chia thành toán, từ trung tâm, tiến dần ra tuyến phòng thủ thứ hai. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp xác địch quân giữa đám cỏ dại. Lực lượng Biệt Động Quân còn hoạt động ngoài xa và trên bầu trời, một chiếc máy bay quan sát  chao lượn. Đã hơn hai giờ trưa. Gần sáu tiếng đồng hồ liên tục, như một cái máy, nào lượm xác cho vào túi, nào gói xác trong áo mưa, rồi khiêng xác di chuyển trên mặt đất không bằng phẳng và chất lên xe vận tải. Túi đựng xác và áo mưa cũng săp hết. Phòng Tư Sư Đoàn nhận được báo cáo, chỉ thị chúng tôi tiếp tục, dù không còn túi đựng, và phải đưa thi hài về càng nhiều càng tốt. Cho dù thực sự thấm mệt, nhưng đây là nhiệm vụ, chúng tôi phải hoàn thành một cách tốt đẹp nhất.Trong đầu óc chúng tôi giờ này chỉ nghĩ đến lượm xác và lượm xác . Chúng tôi không còn biểu lộ cảm xúc trước những người vừa nằm xuống. Mắt chúng tôi mờ đi không phải do những giọt lệ thương cảm mà do những giọt mồ hôi. Cứ đưa thi hài ra xe vận tải, mất cánh tay, mất bàn chân, mất ….dù không nguyên vẹn, vẫn phải đưa về…

Trời đã xế chiều, mặt trời xuống dần, chúng tôi được lệnh ra khỏi vùng dù chưa đi tới vòng đai ngoài xa nữa. Đoàn xe chở thi hài về đến sân bay đồn điền gần thị trấn Dầu-Tiếng, trời đã tối . Một vài ngọn đèn điện không đủ sáng , Sư đoàn điều động năm sáu chiếc quân xa nổ máy và rọi đèn để  chúng tôi làm việc. Tại sân bay, cũng như tối hôm qua, chúng tôi chia thành hai toán, mỗi toán phụ trách chuyển xác vào trong lòng một  máy bay. Lần lượt túi đựng xác xếp lên trước rồi tới áo mưa “gói” xác, rồi tới các thi hài  không có gì bao bọc. Thoạt đầu xếp thành hàng lớp ngay ngắn, nhưng vì số lượng nhiều, phải tranh thủ thời gian nên chúng tôi được lệnh cứ chất vào đầy phi cơ. Lúc này, thực khó khăn cho chúng tôi, xác tử thi đã bắt đầu phân hủy, bốc mùi hôi thối nồng nặc. Đã có những dòng nước từ thi hài thấm qua quân phục, chảy lan trên sàn xe, sàn tầu bay, đọng trên mặt đất, nền phi đạo . Các quân nhân phải thay phiên, luân chuyển, khi thì trong khoang tàu, khi thì ở dưới đất để thay đổi không khí trong buồng phổi. Dĩ nhiên chúng tôi không thu lượm xác địch quân. Nhưng không ngờ, trong lúc mệt mỏi, các toán đã sơ ý lượm hai “xác lạ” chở về sân bay và đã phát hiện kịp thời trước khi đưa vào phi cơ . Chính quyền địa phương sau đó giải quyết những xác này. Cuối  cùng tất cả những thi hài thu lượm từ trận địa ngày hôm nay, ngày kết thúc, kể cả thi hài không có gì gói ghém, bao bọc đã được chất trên hai vận tải cơ, chuẩn bị đưa về sân bay Tân Sơn Nhất. Đại Úy Tấn để chúng tôi chọn lựa : theo máy bay chở xác về Tân Sơn Nhất hoặc chờ vài ba ngày có máy bay khác lên đón. Sau cùng chúng tôi quyết định theo máy bay về Saigon ngay tối hôm đó. Chỉ sau một giờ bay, phi cơ hạ cánh. Ra khỏi máy bay, tôi tưởng như mình vừa thoát khỏi âm ty địa ngục, dù chưa biết âm ty địa ngục như thế nào!  Sau khi làm vài động tác hit thở, tôi đã tỉnh táo hơn, dễ chịu hơn. Suốt chặng đường bay một tiếng đồng hồ ngồi chung con tàu đầy xác người đã bốc mùi hôi thối , chiếc khăn tay luôn che mũi và miệng, quả thực chúng tôi choáng váng nhận ra không sợ phải sống cạnh xác người mà sợ mùi bốc ra từ xác người đã rữa nát ấy…

Sáng sớm hôm sau, đơn vị cho xe đón chúng tôi về Phú-Lợi . Riêng tôi, công  việc đầu tiên là vứt bỏ ngay, không thương tiếc tất cả y phục, giầy vớ v.v mặc trên người. Thế mà cả tuần lễ sau, tôi vẫn thấy hình như mùi “đặc biệt”, khó diễn tả, từ xác người đã bị phân hủy ấy, vần còn bám trên người tôi, vẫn còn quanh quẩn đâu đó….

Thời gian trôi nhanh, trên nửa thế kỷ qua đi, tôi vẫn không quên kỷ niệm cuộc “hành quân”đầu tiên trong đời binh nghiệp tại làng 13Bis. Hình ảnh những  thi hài dù được thu lượm về hay còn nằm phơi mình dưới nắng mưa ngoài trận địa, hoặc được chôn vùi một cách đơn sơ trong rừng sâu khiến tôi tự hỏi tất cả những hy sinh của họ đã được đền bù xứng đáng chưa? Đem thể xác yếu như “cây sậy” của họ thách thức bom đạn, để phục vụ một lý tưởng nào quá xa xôi và mơ hồ, liệu có tàn nhẫn không? Những danh hiệu, những mỹ từ, những truy phong, truy tặng v.v có đủ để đánh đổi mạng sống của họ hay chăng? Dù gì đi nữa, một điều chắc chắn là thân xác những người đã hy sinh ấy nay đã thành “cát bụi”…Và không biết ba mươi năm chiến tranh Việt Nam 1945-1975 mà nhiều người gọi là cuộc chiến tranh “phúc đức”, có bao nhiêu triệu người dân Việt trở thành cát bụi ?

Triệu-Vũ

Mùa Tạ Ơn 2017.

www.vietnamvanhien.org

 

CHUYẾN TÀU THỐNG NHẤT

 

CHUYẾN TÀU THỐNG NHẤT

Nguyên Vũ (*)

 

Như một nén hương tưởng niệm K.A.

 

Trước ngày về Việt Nam, tôi có ba điều tâm nguyện. Thứ nhất, tới thắp hương cho các vong hồn tử sĩ. Thứ hai, ghé qua Yên Báy, thăm thánh địa của Việt Nam Quốc Dân Đảng [VNQDĐ]. Thứ ba, ngồi trên một chuyến xe lửa thống nhất Bắc-Nam. Vì chương trình làm việc khá bận rộn, chỉ có tâm nguyện thứ nhất đạt được sau hơn 5 tháng ở Việt Nam. Nhân dịp các công sở nghỉ lễ mừng “30 năm giải phóng” (30/4) và Lao động Quốc tế (1/5), tôi quyết định thực hiện nốt hai tâm nguyện cuối.

Thoạt tiên, dự trù sẽ đáp xe lửa tới Nghệ An, làm việc một ngày, rồi từ đây mua vé xe hơi ra Hà Nội; và trở lại miền Nam bằng đường bộ để có một cái nhìn đích thực hơn về đất nước và dân tình. Nhưng cuối cùng, chúng tôi chọn phương tiện có nhiều tiện nghi và phố thông nhất—xe lửa mà hơn 30 năm trước tôi đã cho các nhân vật Bi Kch Vàng của mình phiêu lưu vào vùng trời hậu chiến hòa bình và ám ảnh hận thù, xương máu dĩ vãng. Việt Nam mỗi ngày có bốn chuyến tàu xuôi ngược Bắc-Nam. Chuyến tàu SE, khởi hành vào 14G40, và tới bến cuối khoảng 30 giờ sau. Ba chuyến khác, khởi hành vào khoảng 20 giờ, 22 giờ và 6 giờ sáng. Thời gian linh động từ 32 tới 39 giờ. Vé tàu chia làm ba loại: vé ngồi, vé nằm, 6 giường một khoang, và vé nằm, bốn giường nằm một khoang.

Vì chuyến tàu Bắc-Nam khá dài, chúng tôi mua vé hạng nhất, 4 giường một khoang, cho thoải mái. Dù đang giữa mùa lễ hội, việc mua vé đi đúng vào ngày 30/4 thật dễ dàng. Chỉ với một khoản dịch vụ nhỏ, khoảng hơn 1 Mỹ kim, vé đưa tới tận nhà, không cần trình giấy tờ.

 

Ga Hòa Hưng chẳng xa nơi chúng tôi tạm trú. Không rõ nhà ga chính của Sài Gòn đã rời từ đường Lê Lai cũ về đây năm nào. Trạm hành khách khá rộng, taxi có thể tới tận cửa ra vào. Ngay sát cửa chính là hai tiệm ăn nhỏ, bình dân, với những chiếc ghế plastic xanh đỏ, lè tè sát mặt đất, những ly cà-phê tí hon hai ngàn đồng, bia và nước ngọt nội hóa. Phòng đợi khá thoáng rộng, vài chục hàng ghế chất đầy khách và thân nhân đưa tiễn.

Đúng hai giờ chiều, tức 40 phút trước giờ khởi hành, cửa vào bến ga mới mở. Vợ chồng tôi là những khách đầu tiên khệ nệ hành lý leo lên con tàu Thống Nhất SE-2. Toa tàu khá hiện đại, có một chiếc bàn lửng nhỏ sát cửa sổ và chốt cắm điện riêng trong khoang. Ở hai đầu toa, nhà vệ sinh và phòng rửa tay khá sạch sẽ.

Đúng 14G40, tàu chuyển bánh. Chúng tôi nô nức nhìn sang hai bên đường, quan sát cảnh vật. Sài Gòn vẫn đỏ rực màu cờ và biểu ngữ, dấu tích của những cuộc “diễu hành” và “diễu binh” mừng “đại thắng mùa Xuân 1975,” “giải phóng miền Nam” từ Bắc chí Nam suốt một tháng qua—với chi phí khá lớn, hẳn có thể sử dụng một cách tốt đẹp hơn cho các kế hoạch an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, với tiêu chuẩn phân chia giàu nghèo 150,000 đồng mỗi tháng. Nhưng những chính quyền chuyên chính—hay, “dân chủ tập trung,” nếu muốn—thường dành cho ngành tuyên truyền ngân khoản lớn. Không những để cổ võ niềm tin của đám đông theo “nguyên lý” Goebbels, hay “Vẹm”, mà còn phô trương uy quyền của giới lãnh đạo. Hầu như chẳng mấy ai quan tâm đến số tiền nợ công mà bao thế hệ  Việt Nam tương lai phải gánh chịu—kiểu vay nợ mới trả tiền lãi nợ cû; rồi cắt đất, cắt biển trả nợ; giắt r nhau di dân hay xin nội thuộc “Trung Quốc?” Trong khi đó, biết bao tai to mặt lớn theo nhau ra tòa vì tham nhũng, trộm cắp của công, biến thủ quĩ tiết kiệm, chương mục ngân hàng. Tháng 3/2018, khi tôi hiệu đính lại bài tạp ghi này, một ủy viên Bộ Chính Trị, và nhiều cấp chỉ huy ngân hàng, công ty quốc doanh lớn nhỏ bị “đả hổ, giết ruồi” rập theo kinh nghiệm lãnh tụ suốt đời Xi Jin-ping [Tập Cận Bình] cùng bầy tội phạm chiến tranh Trung Nam Hải [Zhongnanhai]—những kẻ tử thù của dân Việt thường sử dụng để ám sát chính trị và tư cách những nhân vật dính líu vào bản án Tòa Hòa Giải Thường Trực Quốc Tế 12/7/2016 (như Trương Tấn Sang, Nguyễn Tẩn Dũng).

Thứ Hai, 11/7/2016  [8/6 Bính Thân] Renmin Ribao: Xã luận: TH là nạn nhân của Mỹ; Tuổi Trẻ online, 11/7/2016. Bắc Kinh đã lấp biển thành đảo nhân tạo 13 square kilometers trong hai năm qua. The South China Arbitration Award (12 July 2016), p 471.

Thứ Ba, 12/7/2016 [9/6 Bính Thân]: Tòa Hòa Giải Quốc Tế [PCA] ra phán quyết về vụ kiện của Phi-lip-pin:

X.A. Jurisdiction: TH không được hưởng bất cứ Vùng Đặc Quyền Kinh Tế [EEZ] nào quanh các ghềnh đá Mischief Reef hay Second Thomas Shoal [Re’nai Reef] in the Spratlys, như Điều khoản 121 UNCLOS qui định. The South China Arbitration Award (12 July 2016), X.A. p 471.

Ngày 9/3/2014, Cận Bình cho lệnh kéo hai tàu Philippines [Phi-lip-pin] khỏi ghềnh đá Thomas Shoal II [Ren’ai Reef] rồi thượng tuần tháng 5/2014, dùng dàn khoan Haiyang Shiyou 981 cùng đoàn hộ tống hải và không lực hùng hậu trên 100 tàu, bố trí thành ba vòng phòng thủ, công khai hóa việc cướp đoạt quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ năm 1956 rồi 1974

[On Sunday, 9/3/2014, the Chinese coast guard vessels drove away two Philippine ships from the Thomas II Shoal [Re’nai Reef] in the Spratlys.

On Wednesday, 12/3/2014, the US DOS spokesperson Jen Psaki declared “the US opposes provocative or unilateral actions that jeopardize peace and security in the South Sea.”

Next day, 13/3/2014, after a phone conversation between Kerry and Wang Yi, Qin Gang, a spokesperson of the Chinese Foreign Affairs Ministry, accused the USA of “making misleading comments on a disputed South China reef.” In a press release, Qin Gang said “the US comments ignored the facts, ran against the status as a non-claimant, and violated its commitment not to take sides over the dispute”].

[30/3/2014: Philippines chính thức nộp đơn kiện TH [Memorial] theo chỉ thị của International Tribunal về Luật Biển [tức tại tòa án Hòa Giải Quốc Tế The Hague, Hòa Lan]

11/5/2014: Yagnon, Mynmar: Tại Hội nghị cấp cao ASEAN thứ 24 Nguyễn Tấn Dũng mạnh bạo phản đối việc làm phi pháp của Bắc Kinh, qua việc đưa dàn khoan Haiyang Shoyu 981 tới hoạt động sâu trong vùng EEZ và Continental Shelf của VN, gần Hoàng Sa, dự trù từ 3/5 tới 15/8/2014. (Đà Nẵng Online, 5/6/2014; Nhân Dân [ND] điện tử, (Hà Nội), 4/7/2014; QĐND Online (Hà Nội), 4/7/2014

13-14/5/2014: Bạo động biểu tình, cướp phá các công ty TH tại Dĩ An, Bình Dương, Hà Tĩnh. Khoảng 100 người bị thương, 21 người chết.

22/5/2014: Dũng tuyên bố với Reuters và AP: sẽ nghiên cứu việc đưa Bắc Kinh ra trước tòa án quốc tế. (Đà Nẵng Online, 5/6/2014; Nguyễn Tấn Dũng website, 23/5/2014;.

25/5/2014: Hà Nội cho rằng Bắc Kinh “misquotes” thư ngày 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng. Năm 1956 và 1958, miền nam VN dưới quyền quản lý của VNCH, Bắc Kinh đã cướp chiếm năm 1956 và 1974; QĐND, 26/5/2014.

Thứ Năm, 2/7/2014: Tiếp Đại sứ Phi Albert de Rosario tại Hà Nội: Những hành động mang tính chất gây hấn, vi phạm luật pháp quốc tế, vô nhân đạo của TH gần đây làm cho biển Đông xấu đi từng ngày.

PCA Case No 213-19, In the Matter of the South China Sea Arbitration, before an Arbitral Tribunal Constituted Under Annex VII to the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea, between the Republic of the Philippines and the People’s Republic of China, Award (12 July 2016); www.pca-epa.org; Jane Perlez, “Defending David Against the World’s Goliaths in International Coirt;” NYT, July 15, 2016.

Ngày 12/7/2016, Ban Chủ Biên The NYT cũng đăng một bài quan điểm xuất sắc: “Testing the Rule of Law in the South China Sea;” NYT Opinion Pages, July 12, 2016

[Ngày 29/10/2015: Tòa Trọng Tài Quốc Tế [The Permanent Court of Arbitration] the Hague, the Netherlands, quyết định có phán quyền [juristriction and admissibility] trên các đơn kiện số 1 và 2 của Phi-lip-pin. Không có căn bản pháp lý [legal basis] cho chủ quyền lịch sử [historic title] theo khuôn khổ Art 298(1)(a)(i) của Qui Ước UNCLOS. The South China Arbitration Award (12 July 2016), p 471.

Ranh giới đường lưỡi bò chin điểm mà TH tự nhận chủ quyền tối thượng lịch sử không có cơ sở pháp lý [China’s claims of historical rights don’t have any legal basis.”]

 

X.A. (1) Các ghềnh đá Mischief Reef hay SecondThomas Shoal chỉ xuất hiện khi thủy triều xuống [low tide elevations], bởi thế không có vùng đặc quyền kinh tế [generate no entitlement to maritime zone]

The South China Arbitration Award (12 July 2016), p 471.

X.A. (2) Không có vùng chằng chéo [over-lapping] của các vùng đặc quyền kinh tế trong khu vực Mischief Reef hay SecondThomas Shoal; The South China Arbitration Award (12 July 2016), p 471.

X.A. (3) TH không được hưởng bất cứ Vùng Đặc Quyèn Kinh Tế [EEZ] nào quanh các ghềnh đá Mischief Reef hay SecondThomas Shoal như Điều khoản 121 UNCLOS qui định [theo cáo trạng 8, 9 của Phi-lip-pin]. The South China Arbitration Award (12 July 2016), p 472.

X.A. (4) Những vật thể hình thành do việc bồi đắp bằng đất cát [land reclamation and/or construction of artificial islands, installations, and structures] tại bảy [7] ghềnh đá Cuarteron Reef, Fiery Cross Reef [chữ Thập, VN], Gaven Reef [Bắc], Johnson Reef, Hughes Reef, Subi Reef và Mischief Reef] không phải là những vị trí quân sự, nên PCA có phán quyền xét xử đơn kiện số 12 và 12(b). South China Arbitration Award (12 July 2016), p 472.

X.A. (5) Mischief Reef và SecondThomas Shoal không có EEZ hay Continental Shelf như qui định bởi điều 121 của UNCLOS. Vậy PCA có phán quyền trên đơn kiện 12(a) và 12(c). South China Arbitration Award (12 July 2016), p 472.

X.A.(6) PCA không có phán quyển trên đơn kiện 14(a) tới 14(c) về sự đương đầu quân sự giữa TQLC Phi và lực lương HQ/TH. South China Arbitration Award (12 July 2016), p 473.

X.B. [Merits of the Disputes](2) Ranh giới đường lưỡi bò chin điểm ma TH tự nhận chủ quyền tối thượng lịch sử không có cơ sở pháp lý [China’s claims of historical rights don’t have any legal basis.”] UNCLOS thay thế bất cứ chủ quyền lịch sử [historic rights], hay những quyền và phán quyền khác [or sovereign rights and/or jurisdiction] vượt qua giới hạn cho phép của UNCLOS [in excess of the limits imposed therein]. South China Arbitration Award (12 July 2016), p 473.

X.B. (3): 6 islands theo Điều 121(1): Scarborough Shoal, Gaven Reef (North) , McKennan Reef, Johnson Reef, Cuarteron Reef, Fiery Cross Reef:.  South China Arbitration Award (12 July 2016), p 473

X.B. (4): 5 không phải islands, chỉ low-tide elevation, theo Điều 12 của UNCLOS): Subi Reef, Gaven Reef (South), Hughes Reef, Mischief Reef và SecondThomas Shoal;  South China Arbitration Award (12 July 2016), p 473

Subi Reef, cách Sandy Cay 12 hải lý, phía tây Thitu. South China Arbitration Award (12 July 2016), p 474

Gaven Reef (South), nằm trong vòng 12 hải lý của Gaven Reef (North) và Namyit Island;

Hughes Reef, nằm trong vòng 12 hải lý của McKennan Reef, và Sin Cowe Island; South China Arbitration Award (12 July 2016), p 474

X.B. (7). Mischief Reef và SecondThomas Shoal: không phải islands.

Nên nằm trong EEZ của Phi-lip-pin. South China Arbitration Award (12 July 2016), p 474

 

X.B.(10)- (13). Trung Cộng khiến tình hình thêm nghiêm trọng trong cuộc tranh chấp địa phương qua việc xây đắp nhân tạo [China has aggravated the seething regional dispute with its large scale land reclamation]. China had violated its obligations to refrain from aggravating the dispute with the settlement process was ongoing. X.B. (13). South China Arbitration Award (12 July 2016), p 475

Tòa cũng phán quyết Trung Cộng đã nhúng tay vào việc khai thác dầu hỏa ở đá Cỏ May [The Court also found that China had interfered with the Phillipines petroleum exploration at Reed Bank], cố gắng ngăn cản tàu đánh cá Phi Lip Pin hoạt động trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế [tried to stop fishing by Phillipines vessels within the country’s exclusive economic zone [EEZ] ], [and]

  1. Không ngăn cản ngư dân Trung Hoa hoạt động trái phép trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Phi-lip-pin tại Mischief Reed và Second Thomas Shoal [failed to prevent Chinese fishermen from fishing within the Philippines EEZ at Mischief Reed and Second Thomas Shoal]. (FoxNews.com, July 12, 2016; PCA Press Release ngày 12/7/2016 (The Repulic of the Philippines v/s People’s Republic of China);) South China Arbitration Award (12 July 2016), X.B. (12-16), pp 475-477

 

  1. Trung Cộng khiến tình hình thêm nghiêm trọng trong cuộc tranh chấp địa phương qua việc xây đắp nhân tạo [China has aggravated the seething regional dispute with its large scale land reclamation]. China had violated its obligations to refrain from aggravating the dispute with the settlement process was ongoing. X.B. (13).

Bắc Kinh đã lấp biển thành đảo nhân tạo 13 square kilometers trong hai năm qua.

  1. Tòa cũng phán quyết Trung Cộng đã nhúng tay vào việc khai thác dầu hỏa ở đá Cỏ May [The Court also found that China had interfered with the Phillipines petroleum exploration at Reed Bank], cố gắng ngăn cản tàu đánh cá Phi Lip Pin hoạt động trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế [tried to stop fishing by Phillipines vessels within the country’s exclusive economic zone [EEZ] ], [and]
  2. Không ngăn cản ngư dân Trung Hoa hoạt động trái phép trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Phi-lip-pin tại Mischief Reed và Second Thomas Shoal [failed to prevent Chinese fishermen from fishing within the Philippines EEZ at Mischief Reed and Second Thomas Shoal]. (PCA Press Release ngày 12/7/2016 (The Repulic of the Philippines v/s People’s Republic of China); FoxNews.com, July 12, 2016)

PCA Case No 213-19, In the Matter of the South China Sea Arbitration, before an Arbitral Tribunal Constituted Under Annex VII to the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea, between the Republic of the Philippines and the People’s Republic of China, Award (12 July 2016); www.pca-epa.org; Jane Perlez, “Defending David Against the World’s Goliaths in International Coirt;” NYT, July 15, 2016.

Ngày 12/7/2016, Ban Chủ Biên The NYT đăng một bài quan điểm xuất sắc: “Testing the Rule of Law in the South China Sea;” NYT Opinion Pages, July 12, 2016

  1. The unanimous ruling of the five-judge tribunal on the Hague was more favorable toward the Philippines and broader in scope than experts had predicted. It said that under the United States Nations Convention on the Law of the Sea, China has no legal basis to claim historical rights over most of the waterway, which is rich in resources and carries 5 trillion in annual trade.
  2. The panel also faulted China for its aggressive attempts to establish sovereignty by shifting tons of dirt to transform small reefs and rocks into artificial islands with airstrips and other military structures. China’s neighbors fear that it intends to use those outposts to restrict navigation and the rights of others o fish and explore for oil and gas.

China had indeed violated “irreparable harms” to the maritime environment, endangering ships and interfering with the Philippines fishing and oil exploration.

Further, China had illegally built on artificial island on Mischief Reef, complete with a military airstrip, in waters belonged to the Philippines.

The Philippines welcomed the decision. Foreign Minister Yasat pledged to pursue a  peaceful resolution of the country’s territorial disputes  with China.

John Kirny, State Dept spokesperson, said the US expected China and the Philippines both to comply with their obligations under the ruling, calling it an important contribution to the shared goal of peacefully resolving South China Sea dispute.

 

Thứ Tư, 13/7/2016  [10/6 Bính Thân],

Hà Nội: Lê Hải Bình, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao XHCNVN, tuyên bố hoàn toàn ủng hộ giải pháp hòa bình ở biển Đông, qua đường lối ngoại giao và công pháp quốc tế.

[Vietnam strongly supports the resolution of the disputes in the East Sea by peaceful means, including diplomatic, legal processes, and restraining from the use of threats to the use of force, in accordance with international law.

Bắc Kinh ra Bạch thư về Biển Nam: “China is upholding the Rule of Law: free navigation..

Cho phi cơ hạ cánh xuống hai phi trường ở Trường Sa.

“TT Phi-lip-pin Rodrigo Duterte soften down its stance.”

Tân TT Philippines Rodrigo Duterte từng tuyên bố TC đề nghị viện trợ xây đường sắt nối liền Manila và khu căn cứ Clark.

Thứ Sáu, 15/7/2016 [12/6 Bính Thân] Luật sư Paul S Reichler. Jane Perlez, “Defending David Against the World’s Goliaths in International Court;” NYT, 15/7/2016.

Đảo chính hụt ngày 15/7/2016.

Thứ Ba, 9/8/2016  Tổng thống Turkey thăm Moscow. Tuyên bố tại buổi họp báo chung với Putin là muốn cải thiện bang giao với Russia, Gọi Putin là “my friend. China 24.

 

Xe cộ chừng thưa bớt vì không ít dân Sài Gòn tản đi các tỉnh và trung tâm du lịch. Trong khoang của chúng tôi cũng có một kỹ sư trẻ ngành viễn thông hối hả lên tàu vào phút chót để ra Nha Trang thăm bạn bè nhân dịp bốn ngày nghỉ lễ.

Phú Nhuận, Bình Chánh, rồi Thủ Đức—ba quận của tỉnh Gia Định cũ đã sát nhập vào Sài Gòn. Phía Đông thành phố đang phát triển nhanh, đặc biệt là khu Hàng Xanh-Thị Nghè.

Đây là cửa ngõ vào Sài Gòn từ phía Bắc. Cửa ngõ thứ nhất là xa lộ Sài-Gòn/Biên Hòa cũ. Chuyến đi Bầu Cạn (Long Thành), Bà Rịa và Vũng Tàu ít tuần trước khiến đi từ ngỡ ngàng này qua ngỡ ngàng khác trước hiện tượng “đô thị hóa” của những đồn điền cao su và thị trấn nghèo nàn ngày nào. Nhà cửa, công xưởng nối liền từ cầu Tân Cảng tới Thủ Đức (Quận 9), ngã tư đi Vũng Tàu (Quốc lộ 61). Cửa ngõ thứ hai, từ Bắc vào  xa cảng miền Đông. Sáng qua, sau khi ghé thăm Dinh Thống Nhất (Độc Lập cũ), vợ chồng tôi cũng làm một chuyến “phiêu lưu” nho nhỏ tới Biên Hòa bằng xe buýt. Từ xa cảng miền Đông, xe vượt cầu Mới, bọc ra Quốc lộ 1-A, xuyên qua lãnh thổ quận Thủ Đức, Bình Dương, rồi đổ khách ở bến xe Bửu Long. Đi taxi vào trung tâm Biên Hòa, ăn “bò bía” ở chợ, mua hai tờ báo Đồng NaiLao Động địa phương. Một cựu quân nhân Không Quân VNCH cho biết Đồng Nai đang phát triển rất mạnh, đặc biệt là khu kỹ nghệ Long Bình. Các khu vực Hố Nai, Gia Kiệm cũng san sát nhà cao cửa rộng, nhà thờ nguy nga, lộng lẫy với những khẩu hiệu như “Tất cả do hồng ân.” Một cái nhìn phiến diện cho thấy Giáo hội Ki-tô Vatican Việt Nam có vẻ đã thuần phục chính quyền hiện hữu. Nhưng có thể chỉ là sự thuần phục bề ngoài, nín thở qua sông. Nhiều hơn một giáo dân tuyên bố “hãy tạm để các ông ấy cầm quyền giúp một thời gian.” Đã và đang có tiếp xúc mật để cải thiện bang giao giữa Hà Nội và Vatican từ năm 2004. Cái chết của Giáo Hoàng Giovanni Paolo [John Paul] II, và sự kế vị của Benedito [Benedict] XVI từ ngày 19/4/2005, [rồi Francisco hiện nay từ năm 2013] liệu có đẩy nhanh hơn tiến trình bình thường hóa? Liệu Vatican đủ khả năng áp lực các phe nhóm Ki-tô quá khích chấp nhận sống chung hòa bình với “Cộng Sản?” mà nhiều người tưởng nghĩ đã suy tàn từ thập niên 1990. Những điều kiện chia chác miếng bánh quyền lực, với các giáo hội Thiên chúa có chân rết với Tây phương, sẽ phải trả bằng giá nào từ phía những tổ chức tôn giáo cổ truyền, độc lập, thiếu sự tổ chức tinh vi của Giáo hội Ki-tô với hàng ngũ cán bộ giáo sĩ, trợ tế đông đảo? [Hiện tượng văn hóa “vơ vào” mà Nguyễn Văn Trung chủ trương, như bíến hóa những Ki-tô vàng được Ki-tô trắng huấn luyện và điều khiến để phục vụ cuộc xâm chiếm của thực dân Pháp thành vĩ nhân văn hóa, hay lãnh tụ như Petrus Key, Paul Nguyễn Trường Tộ, cha con Ngô Đình Khả, Khôi, Diệm, Thục, Nhu, cần tỉnh táo phân tích trong ánh sáng sử học, vì ngụy ngôn chắng khác gì lấy giấy gói lửa. Thật chua sót  là Việt Nam chưa có một bộ sử chân chính, chỉ toàn những tài liệu tuyên truyền hay tuyển tập dã sử tiểu thuyết]

 

Xe cộ chừng thưa bớt vì không ít dân Sài Gòn tản đi các tỉnh và trung tâm du lịch. Trong khoang của chúng tôi cũng có một kỹ sư trẻ ngành viễn thông hối hả lên tàu vào phút chót để ra Nha Trang thăm bạn bè nhân dịp bốn ngày nghỉ lễ.

Phú Nhuận, Bình Chánh, rồi Thủ Đức—ba quận của tỉnh Gia Định cũ đã sát nhập vào Sài Gòn. Phía Đông thành phố đang phát triển nhanh, đặc biệt là khu Hàng Xanh-Thị Nghè.

Đây là cửa ngõ vào Sài Gòn từ phía Bắc. Cửa ngõ thứ nhất là xa lộ Sài Gòn/Biên Hòa cũ. Chuyến đi Bầu Cạn (Long Thành), Bà Rịa và Vũng Tàu ít tuần trước khiến đi từ ngỡ ngàng này qua ngỡ ngàng khác trước hiện tượng “đô thị hóa” của những đồn điền cao su và thị trấn nghèo nàn ngày nào. Nhà cửa, công xưởng nối liền từ cầu Tân Cảng tới Thủ Đức (Quận 9), ngã tư đi Vũng Tàu (Quốc lộ 61). Cửa ngõ thứ hai, từ Bắc vào  xa cảng miền Đông. Sáng qua, sau khi ghé thăm Dinh Thống Nhất (Độc Lập cũ), vợ chồng tôi cũng làm một chuyến “phiêu lưu” nho nhỏ tới Biên Hòa bằng xe buýt. Từ xa cảng miền Đông, xe vượt cầu Mới, bọc ra Quốc lộ 1-A, xuyên qua lãnh thổ quận Thủ Đức, Bình Dương, rồi đổ khách ở bến xe Bửu Long. Đi taxi vào trung tâm Biên Hòa, ăn “bò bía” ở chợ, mua hai tờ báo Đồng NaiLao Động địa phương. Một cựu quân nhân Không Quân VNCH cho biết Đồng Nai đang phát triển rất mạnh, đặc biệt là khu kỹ nghệ Long Bình. Các khu vực Hố Nai, Gia Kiệm cũng san sát nhà cao cửa rộng, nhà thờ nguy nga, lộng lẫy với những khẩu hiệu như “Tất cả do hồng ân.” Một cái nhìn phiến diện cho thấy Giáo hội Ki-tô Vatican Việt Nam có vẻ đã thuần phục chính quyền hiện hữu. Nhưng có thể chỉ là sự thuần phục bề ngoài, nín thở qua sông. Nhiều hơn một giáo dân tuyên bố “hãy tạm để các ông ấy cầm quyền giúp một thời gian.” Đã và đang có tiếp xúc mật để cải thiện bang giao giữa Hà Nội và Vatican từ năm 2004. Cái chết của Giáo Hoàng Giovanni Paolo [John Paul] II, và sự kế vị của Benedito [Benedict] XVI từ ngày 19/4/2005, [rồi Francisco hiện nay từ năm 2013] liệu có đẩy nhanh hơn tiến trình bình thường hóa? Liệu Vatican đủ khả năng áp lực các phe nhóm Ki-tô quá khích chấp nhận sống chung hòa bình với “Cộng Sản?” mà nhiều người tưởng nghĩ đã suy tàn từ thập niên 1990. Những điều kiện chia chác miếng bánh quyền lực, với các giáo hội Thiên chúa có chân rết sang Tây phương, sẽ phải trả bằng giá nào từ phía những tổ chức tôn giáo cổ truyền, độc lập, thiếu sự tổ chức tinh vi của Giáo hội Ki-tô với hàng ngũ cán bộ giáo sĩ, trợ tế đông đảo? [Hiện tượng văn hóa “vơ vào” mà Nguyễn Văn Trung chủ trương, như bíến hóa những Ki-tô vàng được Ki-tô trắng huấn luyện và điều khiến để phục vụ cuộc xâm chiếm của thực dân Pháp thành vĩ nhân văn hóa, hay lãnh tụ như Petrus Key, Paul Nguyễn Trường Tộ, cha con Ngô Đình Khả, Khôi, Diệm, Thục, Nhu, cần tỉnh táo phân tích trong ánh sáng sử học, vì ngụy ngôn chắng khác gì lấy giấy gói lửa. Thật chua sót  là Việt Nam chưa có một bộ sử chân chính, chỉ toàn những tài liệu tuyên truyền hay tuyển tập dã sử tiểu thuyết]

Xin đừng vội trách hay gán ghép những thuật ngữ vô nghĩa về hiện trạng nghiên cứu sử tại Việt Nam. Qua hai tập nghiên cứu Viết Từ Chân Đền Hùng (2015) và Nhục Hận Biển Đông Nam Á: Kiện hay Không Kiện? (3 tập, 2015-2016), do Hợp Lưu xuất bản, Amazon tổng phát hành toàn thế giới, chúng tôi đã chuyến những lược sử Việt qua Tây lịch, theo phương pháp và tiêu chuấn quốc tế, hy vọng giúp các thế hệ trẻ số vốn liếng tối thiểu, cho con đường dài hướng về một tương lai tiến bộ, đảng sống hơn.

Sau chín [9] năm trở lại các đại học Mỹ, tháng 12/1984, Vũ Ngự Chiêu tốt nghiệp Tiến sĩ sử Thế Giới, với luận án về “Political and Social Change in Viet Nam Between 1940 and 1946 [Những Biến Đổi Chính Trị và Xã Hội Việt Nam từ 1940 tới 1946].” Khác với tiểu luận Master’s Degree [Cao học] “The Vietnam War : Won or Lost ? [ Chiến Tranh Việt Nam : Thắng Hay Bại ?];” nghiên cứu thứ hai của Vũ Ngự Chiêu này dựa trên rất nhiếu tài liệu văn khố Pháp, về các phe phái, tác nhân lịch sử Việt Nam. Trong thời gian nghiên cứu ở Pháp, Vũ Ngự Chiêu may mắn tìm thấy hơn 100 tài liệu quí hiếm, chưa hề được công bố trên thế giới, giúp tái dựng một giai đoạn lịch sử đáng tin hơn.

  1. Nhóm tài liệu thứ nhất liên quan đến Hồ Chí Minh và Đảng “Cộng Sản Việt Nam. 

A1. Hai lá thư xin nhập học trường Thuộc Địa [Ecole coloniale] Pháp, đề ngày 15/9/1911 của “Nguyển Tất Thành, sinh năm 1892 tại Vinh, con Phó bảng [Sous docteur ès lettre] Nguyễn Sinh Huy, đã học ba thứ tiếng Pháp, Nho và quốc ngữ.”

Đơn này bị từ chối, vì Monsieur Thành” không được chính phủ liên bang Đông Dương gửi qua, theo sắc luật năm 1911 mới ban hành. Tên thực Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Sinh Côn, tức Hồ Chí Minh—đã được thêm chân cho rắn từ năm 1945-1946 trong khối sử văn “chiến tranh lạnh đầy sai lầm.”

A2. Tài liệu thứ hai là văn thư của Hiệu trưởng trường Tây tự Quốc Học ở Huế, thông báo cho tòa Khâm sứ Huế biết trò Nguyễn Sinh Côn, cựu học sinh trường Pháp-Nam Thừa Thiên đã được nhận vào trường Quốc Học từ ngày 7/8/1908—bốn tháng sau ngày xảy ra vụ chống sưu thuế ở Công Lương Huế.

Có những người vô trách nhiệm và thiếu sự lương thiện trí thức, cho là Nguyễn Thế Anh tìm ra tài liệu xin nhập trường Thuộc Địa. Điều này hoàn toàn không đúng. Nguyễn Thế Anh ngồi bên Vũ Ngự Chiêu, nhưng làm việc trên một tài liệu khác. Thêm nữa, sau này, Nguyễn Thế Anh tin rằng Nguyễn Tất Thành có thể là tên hồi trẻ của HCM. Từ năm 2008, sử gia Vũ Ngự Chiêu đã nêu rõ trong cuộc phỏng vấn của nhóm Linh mục Lễ, cũng như với Nguyễn Vĩnh Châu trên tờ Hợp Lưu. Nên thêm, học giả Mỹ đi nghiên cứu ngoại quốc thướng được trợ cấp khá cao số chi phí làm phóng ảnh (khá đắt). Nhờ vậy hiện Vũ Ngự Chiêu còn lưu trữ rất nhiều tài liệu văn khố Pháp, Mỹ, cũng như Viêt Nam.

A3. Kèm theo hai tài liệu chính này có hồ sơ Nguyễn Sinh [hay Sanh] Huy bị cất chức tri huyện Bình Khê tháng 1/1910, vì say sưa và tàn ác với dân chúng ; nên bị tống giam, rồi cách tuột làm dân, trôi nổi vào Nam; trong khi hai con phải rời Huế.

A4. Cũng nên đề cập đến tài liệu về Nguyễn Ái Quấc, “Fan Lan” Nguyễn Thị Vịnh, v.. v.. tại Văn Khố Quốc Tế Cộng Sản và kho SPCE của Pháp. Tại Trung Tâm Lưu Trữ II ở Sài Gòn, củng có đầy đủ hồ sơ về chuyến đi của Maurice Honel năm 1937. Ít ai ngờ, nhưng “Thiếu tá Lang” sau này là người thông dịch cho Honel!

  1. Nhóm tài liệu thứ hai liên quan đến giới “không Cộng Sản” Việt Nam, dù khó xếp vào nhóm “chống Cộng.

Một số tài liệu mà Vũ Ngự Chiêu tìm ra đáng ghi nhớ liên quan đến gia đình Ngô Đình Khả, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Thục, và vợ chồng Ngô Đình Nhu. Đã được công bố khá đầy đủ trong Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, Cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963.

Nguyễn Đức Quỳnh, tay chân của Bình Xuyên, là một thí dụ khác. Tháng 9/1954, Trần Văn Ân từng đề nghị với Pháp và Bảo Đại đưa ra một Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia có Ân, Quỳnh, v.. v.. để thay thế Ngô Đình Diệm. Con trai Quỳnh sau này bị kết án hiếp dâm, nhưng trở thành một thứ “thanh niên trừ gian” của Nguyễn Cao Kỳ.

  1. Loại tài liệu thứ ba liên quan đến các giai tầng lãnh đạo thời Pháp thuộc, Cộng Sản Việt Nam, và Việt Nam Cộng Hòa.
  2. Loại tài liệt thứ tư liên quan đến nếp sống tôn giáo tại Việt Nam.

Với những sử gia được huấn luyện chuyên biệt, công trình nghiên cứu của họ chỉ đi xa theo sự cho phép của các tài liệu khả tín. Dù rằng ngoài đời, người ta thích nghe và bàn tán về những ngụy thư do các cơ quan tuyên truyền tung ra, như Hồ Chí Minh là một người Tàu giả mạo !

 

Tàu chạy tốc độ cao nên qua khung cửa kính, nhà cửa, cây cối kéo thành một đường chỉ dài đủ màu sắc. Qua khỏi cầu Bình Triệu tầm mắt mới khoáng thoát hơn. Dĩ An, rồi núi Bửu Long. Tiếp đó là rừng cao su ngút ngàn. Đất đỏ, cây xanh, nhựa trắng—nhưng truyền thuyết đấu tranh, cách mạng ghi dưới gốc mỗi cây cao su là một nấm mộ lao công Việt. Oái oăm là tình cảnh lao công cao su nói riêng, và nhân công Việt nói chung chẳng cải thiện bao lăm so với sáu bảy chục năm xưa. Khoảng 30-40% sức lao động Việt đang thất nghiệp hay làm việc không đúng khả năng. Hàng triệu thanh niên, thiếu nữ cũng đang từ bỏ xóm làng đi tìm tương lai ở các thành phố và thị trấn, đặc biệt là Hà Nội và Sài Gòn. Theo tư liêu của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam ngày 23/9/2004, 2.5 triệu cư dân Sài Gòn từ bốn phương đến tạm trú, ít người có sổ đỏ. (Nhân Dân, 24/9/2004)  Hà Nội cũng lôi kéo khoảng 2 triệu nông dân miền Bắc về tạm cư.   Du khách đến Sài Gòn có thể bị sửng sốt khi thấy tài xế taxi của mình là những thiếu nữ xinh đẹp, nhưng lòng sẽ quặn thắt khi bắt gặp trên đường phố Hà Nội những bà già hay thiếu phụ trung niên bán hàng rong, vài sọt trái cây chất chồng trên một chiếc xe thồ, hay vốn liếng vỏn vẹn vài tờ báo, dăm ổ bánh mì, một chiếc rổ xách lỏng chỏng chiếc điếu cày, ấm nước chè nóng, vài gói thuốc nội, vài gói lạc rang, kẹo bánh rẻ tiền. Thu nhập mươi, mười lăm ngàn đồng một ngày đã tạm gọi đủ. Những “tương lai” bệch xám. May mắn và khéo chạy chọt hơn thì đi “ngoại” hay “lao động quốc tế” với đồng lương rẻ mạt và điều kiện làm việc tồi tệ, đủ loại kỳ thị, ở Mã Lai, Nam Hàn, Singapore, Triều Tiên, Nhật, Đài Loan, Đông Âu, Trung Đông. Cũng có những đường dây buôn bán đàn bà và thiếu nữ làm nô lệ tình dục qua “Trung Quốc,” Đài Loan, Malaysia, Miên, Thái Lan, v.. v… [Năm 2017, Nguyễn Xuân Phúc còn đặt ra ngày chống buôn bán đàn bà].

 

Ga Dầu Giây—Thành phố Long Khánh, cách Sài Gòn khoảng 100 cây số. Tỉnh Long Khánh cũ đã sát nhập vào lãnh thổ Đổng Nai-Biên Hòa. Vùng này có 420,000 mẫu Tây trồng cao-su, sản lượng mỗi năm 348,000 tấn cao su thô. (Năm 2004, Việt Nam xuất cảng được 250,000 tấn cao su các loại, trị giá hơn 3 triệu Mỹ kim, xếp hạng thứ 15 trên thế giới).

Nhớ đến chuyến thăm tuyến phòng thủ “thép” phía Đông Bắc Sài Gòn ngày Chủ Nhật, 13 tháng 4 ba chục năm trước. Ngày này—khi nhân viên Tòa Đại sứ Pháp đang tìm cách thuyết phục viên chức Mỹ rằng “Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam [CP/LTMN] sẽ chấp thuận một chế độ chuyển tiếp, trung lập; Đại tướng Dương Văn Minh “lớn” có thể chấp nhận được,” và tân chính phủ Nguyễn Bá Cẩn chuẩn bị nhiệm chức vào hôm sau—Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tổ chức một chuyến thăm mặt trận Xuân Lộc cho giới truyền thông quốc tế và quốc nội. Nguyên bốn ngày trước, 9/4/1975, chiến cuộc bùng lên dữ dội tại Xuân Lộc. Lực lượng Cộng Sản Bắc Việt [CSBV] tham dự có SĐ 7 và 341 của Quân Đoàn 4 và Sư Đoàn 6(-) của Quân Khu 7, dưới quyền Hoàng Cầm. Sư Đoàn 6, từ Gia Rây (trên đường 333), vượt núi Chứa Chan, đánh vào hướng Đông. Sư Đoàn 7/4 từ Định Quán ở hướng Bắc đánh xuống. Sư Đoàn 341/4, từ hướng Tây Bắc tấn công vị trí Trung Đoàn 52/18 VNCH trên Quốc Lộ 20. Trong đêm, Bắc quân chiếm được một góc thị trấn Xuân Lộc. Nhưng nhờ sự yểm trợ hữu hiệu của Không quân và pháo binh, binh sĩ Sư Đoàn 18 VNCH và TQLC giữ vững được Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh cũng tức khắc được điều vào tăng viện.

Tướng Lê Minh Đảo tiếp phái đoàn báo chí tại một bờ rừng cao su. Tôi biết Tướng Đảo ngày ông còn là Thiếu tá Trung tâm trưởng Phối Hợp Hỏa Lực tại Bộ Tư lệnh Quân đoàn IV ở Cần Thơ. Tính tình nghệ sĩ, chơi đàn Tây Ban Cầm khá hay, ông Đảo thăng tiến rất nhanh trong binh nghiệp, có lẽ nhờ nhân sinh quan “bàn tay có gai nhọn bọc nhung.” Ông từng là tùy viên của Tướng Lê Văn Kim, rồi tỉnh trưởng Long An, trước khi về Cần Thơ. Sau đó, được giao nắm Tỉnh trưởng Chương Thiện, rồi Tư lệnh Sư đoàn 18—được cải danh từ Sư đoàn tân lập số 10, vì con số “10” quá xui xẻo. Qua vài câu trao đổi, Tướng Đảo tuyên bố sẽ giữ Xuân Lộc bằng mọi giá. Tôi nghĩ có lẽ chính ông cũng không tin lời mình. Một cái nhìn tổng quan cho thấy khó thể giữ được tiền tuyến này. Hai quân đoàn chính qui CSBV đang từ cao nguyên kéo xuống và Đà Nẵng tràn vào với quân số áp đảo, tinh thần quyết thắng, mức tiến quân nhanh hơn việc chuẩn bị bản đồ.

Chỉ nửa giờ sau, khi ra trực thăng trở lại Sài Gòn, cảnh dân chúng hỗn loạn tràn về phía hai chiếc Chinook vừa hạ cánh đón phái đoàn báo chí trên bãi đáp dã chiến khiến tôi nhận hiểu máu xương những người lính Sư đoàn 18, Sư đoàn 5, TQLC, Dù hay Địa Phương Quân Xuân Lộc chỉ phí phạm vô ích. Vấn đề là tinh thần chiến đấu, một vũ khí đã bị tước đoạt khỏi tay những người lính VNCH và thân nhân sau hai cuộc triệt thoái bi thảm và ô nhục khỏi Pleiku và Vùng I Chiến thuật, trong khuôn khổ chiến lược “đầu bé, đít to” của nhóm Nguyễn Văn Thiệu-Trần Thiện Khiêm-Cao Văn Viên. Sau này được biết, đích thân Thượng tướng CS Nguyễn Chấn (Trần Văn Trà) xuống thám thính địa thế, quyết định bọc qua Xuân Lộc, cắt đứt Quốc lộ 1 ở Dầu Giây. Ngày 14/4, Sư đoàn 6 CS tiến đánh Chiến đoàn 52 ở Dầu Giây. CSBV cũng tấn công một số cứ điểm ở núi Thị, Túc Trưng, Kiệm Tân dài theo Quốc Lộ 20 (nối liền với Đà Lạt). Trung Đoàn 52/18 VNCH bị thiệt hại nặng. Sau khi Phan Rang, rồi Phan Thiết thất thủ, ngày 18/4, Tướng Đảo bay về Biên Hòa. Hai ngày sau, toàn bộ lực lượng rút về Bà Rịa, rồi Gò Công. Lỗi không của Tướng Đảo. Lỗi duy nhất của ông, theo tôi, là đã không tiến quân về Sài Gòn, bắt Thiệu-Khiêm-Viên đền tội—ít nữa thì không thể cho tập đoàn cai thầu chiến tranh bỏ chạy ra hải ngoại với những tài sản khổng lồ.

Ngày Thứ Hai, 21/4/1975—đúng ngày Trung tướng Nguyễn Văn Toàn cho lệnh rút Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III về Sài Gòn, di tản phi cơ từ Biên Hòa xuống Cần Thơ; Nguyễn Văn Thiệu họp khẩn với Phó Tổng Thống Hương và Thủ tướng Khiêm, tuyên bố vì áp lực của các Tướng lãnh, đồng ý từ chức, hy vọng sẽ mang lại hòa bình thực sự cho đất nước cùng viện trợ Mỹ cho quân đội (sic); và Tướng Timmes tới gặp Đại tướng Dương Văn Minh yêu cầu tiếp xúc ngay với phe Chính phủ Lâm thời Miền Nam [CP/LTMN]—phi cơ “hỏa long” C-130 lên vùng, trút xuống các vị trí tập trung của Bắc quân quanh Xuân Lộc những thảm bom, kể cả một trái CBU-55 do đích thân Đại tá Ước thả. Cộng quân bị thiệt hại rất nặng. Nghe nói trọn bộ chỉ huy Sư đoàn 341/4 tức Sư đoàn 1 CSBV hay Công trường 7 bị tiêu diệt vì trái bom khủng khiếp của Đại tá Ước. Cả CP/LTMN và Hà Nội lập tức ầm ĩ tố cáo “Mỹ xử dụng bom chất độc.” (ND, 24/4/1975) Theo tài liệu Cộng Sản, khoảng 500 quân nhân của Quân Đoàn 4 CSBV chết, và hơn 1,100 người bị thương ở mặt trận Xuân Lộc. (Tương đương với số thiệt hại của Sư Đoàn 356 ở Lão Sơn, Vị Xuyên, Tuyên Quang năm 1984 (nay là Hà Giang), dưới cơn mưa bão đại pháo, tên lửa, và bom giây, bom chùm “thân hữu, láng giềng, 16 chữ vàng;” nhưng lãnh thố phải bảo vệ vẫn mất vào tay thực dân Tàu từ năm 1991.

Chẳng hiểu tại sao Tướng Đảo bị kẹt lại sau ngày 30/4/1975, trình diện học tập ở đường Nguyễn Huỳnh Đức, Phú Nhuận—theo báo chí CSVN vào tháng 5/1975. (Có tin Tướng Đảo muốn đưa quân về miền Tây, hợp cùng Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam tử thủ vựa lúa Cửu Long, ít nữa cũng dăm tháng mùa mưa, nhưng lệnh đầu hàng của “Big” Minh khiến mọi sự lỡ dở). Sau hơn 10 năm, được đặc xá nhờ “học tập cải tạo khá,” qua Mỹ định cư. Mùa Hè 2003, tại hải ngoại, đúng tuổi 70,   ông Đảo bỗng dưng thành lập Liên hội cựu quân nhân, không rõ với mục đích gì. Một tập hợp các cựu sĩ quan mà người trẻ nhất cũng đã suýt soát 50, cách Việt Nam nửa vòng trái đất. Phần đông có lẽ không còn đủ sức đi bộ vài dặm, nói chi bơi qua Thái Bình Dương. Có lẽ cho một áp lực chính trị? Ở hải ngoại, không thiếu người tự phong làm Quốc trưởng, Thủ tướng, Bộ trưởng. Và không thiếu những hoang tưởng về giải pháp tái lập Hiệp định Paris 27/1/1973, tái dựng giới tuyến Bến Hải, hầu chia chác miếng bánh quyền lực. Sẽ có đôi người không đồng ý, nhưng đa số những người vỗ ngực Quốc Gia, chống Cộng chẳng biết gì nhiều về Cộng Sản. Một ông Tiến sĩ Khoa học, tốt nghiệp ở Mỹ, không hiểu nổi thế nào là “chỉnh cán, chỉnh quân” theo kiểu Mao Trạch Đông—tức loại bỏ những thành phần kháng chiến có công, nhưng thuộc giai cấp “địa chủ phong kiến,” nặng “tinh thần anh hùng chủ nghĩa cá nhân” từ sau Đại hội kỳ II của Đảng Lao Động (Cộng Sản) Việt Nam vào tháng 2/1951.  Nói chi những thủ thuật chơi chữ, “lý luận” hay “logic” kiểu “dân chủ nhân dân,” “dân chủ tập trung,” “đại đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN.”  Chống Cộng khét tiếng như chế độ Ngô Đình Diệm, nực cười thay, chỉ có việc sao chép vụng về thủ thuật kềm chế đám đông của Nga và Trung Cộng, pha chút phấn son “chủ thuyết nhân vị” kiểu Ki-tô giáo Espania trung cổ. Học giả Bernard B Fall, người viết nhiều về cuộc chiến Việt Nam, nhưng công bố rất ít dữ kiện hay phân giải chính xác, và nhiều chuyên viên thế giới từng chua chát nhận định rằng trên thực chất cả hai chế độ chuyên chính Bắc-Nam đều giống nhau ở khía cạnh độc tài. Bất cứ một ai không được người cầm quyền xếp hạng phe ta, đều bị cáo buộc “phản động, ngụy, Việt gian” hay “phiến Cộng vô thần, cõng rắn Nga-Tàu về cắn gà nhà” và bị trừng trị bằng tất cả những trò man rợ nhất có thể tưởng tượng được. Tự do duy nhất mà dân chúng hai miền được hưởng là tự do đói khổ, sợ hãi, chết chóc và thương tật khi giới lãnh đạo tự nguyện và tự xưng của hai phe quyết tâm làm tròn nhiệm vụ “tiền đồn” do các siêu cường giao phó. Bằng những họng súng, bom đạn, hỏa tiễn “viện trợ.”Hay cái chết của Nguyễn Bảo Toàn, Nguyễn Phan Châu, Nhất Linh, và của bao chiến sĩ quốc gia khác tại các nhà tù trên đất liền cũng như Côn Đảo—nhưng được khoác cho danh hiệu nhà trường, tức trại cái tạo.

 

16G16, tàu chạy qua nhà thờ Thọ Lộc. Từ Suối Kiết, đổi về hướng Đông. Ga Sông Dinh, ga Sông Pham. Tàu xuyên qua khu Rừng Lá thuở nào. Đang có những nỗ lực lấn cây cỏ, giành đất ở đây. Nhưng đất đai khô cằn, sông mương cạn khô. Đã nhiều tháng rồi, thiếu mưa. Không chỉ từ đây ra Phú Yên, mà hạn hán đang hoành hành khắp miền Tây Nam Bộ và miền Bắc. Mực nước ở các đập thủy điện đang ở vào tình trạng báo động đỏ. Nạn hạn hán còn  gây thêm một hiểm họa khác: Nước mặn đang lấn dần vào các cửa sông, đe dọa các ruộng lúa từ Bến Tre tới Củ Chi, Hóc Môn. Một ký giả từng viết nạn nước mặn còn đáng sợ hơn cả dịch rầy nâu. Rầy nâu làm hư hại một phần hoa màu, nhưng nước mặn vào sâu tới 50, 60 cây số có thể khiến trọn mùa lúa thất thu. Và, đã hẳn, mối đe dọa Hậu Giang sẽ một ngày chìm đắm xuống lòng biển—kết qủa của những kế hoạch thủy điện trong lãnh thổ Hoa Nam, Lào, hay Thái Lan.

 

18G00, ngừng lại ga Mương Mán. Từ Mương Mán vào Phan Thiết không xa. Phan Thiết, quê hương của đặc sản nước mắm quốc hồn, quốc túy, với huyền thoại “bác Hồ” hay “cậu Nguyễn Tất Thành” từng ghé lại ít lâu, dạy học tại trường tư thục Dục Thanh. Nhưng, theo lời Y sĩ Hồ Tá Khanh, huyền thoại trên do em gái ông tung ra, người mà ngày cậu Nguyễn Sinh Côn), nếu có ghé qua đây năm 1911, chưa sinh ra đời. Tại Phan Thiết cũng có một nhóm tự xưng là “cựu học sinh của thày giáo Thành.” Tôi vẫn hoài nghi.

Tài liệu về Nguyễn Sinh Côn—tức Hồ Chí Minh—rất nhiều, đủ loại ngôn ngữ. Từ Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Bác Hồ của “Trần Dân Tiên” (một bút hiệu của Côn) tới những tài liệu văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Cộng, v.. v… công bố trong biên khảo mới nhất của Anatoli Sokolov, William J. Duiker, hay Pierre Brocheux, v.. v…. Nhưng tôi không thể đồng ý với Alexander B Woodside rằng chúng ta đã biết đã khá đủ về Côn [Hồ]. Thực ra, cần có những nghiên cứu mới và những diễn dịch mới. Chẳng hạn như phải nhìn lại Côn dưới ánh sáng của Luật Kẻ Yếu, tức nghệ thuật sinh tồn của một nước nhỏ yếu và chậm tiến. Nói cách khác, phải đặt lại vấn đề “chất đỏ”—hay “cán bộ Cộng Sản Quốc Tế”—của Côn. Liên hệ giữa Côn và Mat-scơ-va không chặt chẽ như người ta vời vẽ, hoang tưởng. Linov Côn hay Nguyễn Ái Quốc từng bị các đồng chí đàn em tốt nghiệp Đại học Phương Đông Mat-scơ-va chỉ trích là thành phần “thời cơ chủ nghĩa,” có tinh thần “cải lương” và “quốc gia.” Cinitchkin Hà Huy Tập từng rẻ rúng đề nghị văn phòng Đông Dương của Quốc Tế Cộng Sản cho “đồng chí Lin” giữ nhiệm vụ thông dịch các tài liệu do Ban Chấp ủy Đảng Cộng Sản Đông Dương gửi qua và viết một cuốn tự chỉ trích. Linov Côn (Lin) từng hơn một lần viết thư than thở chẳng hề được giao công tác gì từ năm 1930 tới 1938; và có người cho rằng sở dĩ Linov đột ngột rời Mat-scơ-va vào cuối tháng 9/1938 để tránh bị Stalin thanh trừng. Linov Côn cũng không chỉ dịch bản tuyên ngôn của Cộng Sản Quốc Tế, mà còn dịch Tam Dân Chủ Nghĩa của Tôn Dật Tiên, trích dẫn Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Mỹ vào bản tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.  Linov Côn còn là lãnh tụ Cộng Sản đầu tiên tuyên bố giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương ngày 5/11/1945—ngày mệnh danh là Toàn quốc Kháng chiến—khiến cơ quan Dalburo ở Thượng Hải lên án là “kẻ phản bội.” Cho đến tháng 11/1946, Linov Côn còn tuyên bố trước Quốc Hội mình thuộc “đảng Việt Nam”—khiến năm 1950, Người Thép còn khuyên Côn “không thể đứng giữa hai đầu một ngọn đòn sóc.”

Thảm kịch của dân tộc Việt suốt hơn 70 năm qua phần nào khởi nguồn từ sự thiếu hiểu biết chính xác về Côn [Hồ], cũng như Đảng Cộng Sản Việt Nam, và ngay cả cái học thuyết dịch sai thành “Cộng Sản,” của “Mã Khắc Tư.” Nói rộng hơn, sự hận thù, phân hóa giữa các giai tầng, phe nhóm Việt phần lớn do sự cận thị lịch sử mà ra: chúng ta đã phải chia phe phái bắn giết, hận thù, chửi rủa nhau suốt bao thập niên, đúng hơn hàng chục thế kỷ qua, cũng chỉ do bị nhiễm độc bởi những ngụy sử, do tài liệu tuyên truyền tinh vi của nhiều phe nhóm, chính quyền và cường quốc tạo nên; hoặc do những người thiếu kiến thức, lại tham vọng bắt lịch sử phải uốn quanh “chiếc giường tên tướng cướp trên lưng” mình.

 

Bóng tối đã nhọ mặt người. Rời hành lang vào buồng ăn tối. Bữa cơm đầu tiên trên tàu khá ngon miệng. Có thịt xào dưa chua, thịt lợn kho mặn, canh mồng tơi. Nhân viên tàu cũng rao bán thêm các món nem rán (chả giò), gà rô-ti, bia, café, nước ngọt. Nhớ đến câu chuyện kể của Lê Hồng Lĩnh, anh bạn học thuở Đệ Tam, Đệ Nhị Hồ Ngọc Cẩn, về chuyến tàu “thống nhất” cuối thập niên 1970. Hành khách phải bước lên đầu nhau trên đường tới phòng vệ sinh. Mỗi lần tàu vừa dừng ở một bến nào đó, hành khách tràn xuống các khu đất trống, thoái mái và ồn ào thực thi nhu cầu bài tiết. Đó là chưa nói đến âm mưu ma mãnh của những công nhân, viên chức khi tìm thêm nguồn thu nhập qua các dịch vụ vé chợ đen, hay đặc ân dành cho dân buôn hàng xách. Nhà tôi ghi nhớ cứ mỗi lần đi tàu chợ trở về, thế nào các cháu cũng bị chấy (chí) một thời gian. Đó là chưa kể những xách nhiễu, luồn lách kiểu “định hướng chủ nghĩa” khác.

Trở lại hành lang hút thuốc, cố nhìn sâu vào đêm đen xa lạ, tìm lại những địa danh quen thuộc. 19G30, tàu ngừng lại ga Cà Ná, Ninh Thuận, ít phút chờ tránh tàu từ Bắc vào. Cà Ná, vựa muối thời Pháp thuộc, đang được phát triển thành một trung tâm nghỉ mát và tắm biển.

Khoảng nửa giờ sau, tới Tour Chàm [hay Tháp Chàm, Phan Rang]. Nhớ những Sơn “Mù,” Chử Quân Anh, v.. v… Ngày 15/4/1975—đúng ngày Đại sứ Martin điện về Oat-shinh-tân, yêu cầu loại bỏ Nguyễn Văn Thiệu; Thiệu cho Tiến sĩ  Nguyễn Tiến Hưng, mới thất bại trong quỉ kế tẩu tán 16 tấn vàng dự trữ ra ngoại quốc, đi Mỹ với sứ mệnh cuối cùng: sử dụng thư mật của hai Tổng thống Richard M Nixon và Gerald Ford để gây áp lực; trong khi Lê Trọng Tấn ném thêm vào trận địa Phan Rang Sư Đoàn 325 và Trung Đoàn 25, khiến các đơn vị Liên Đoàn 31 BĐQ rút chạy khỏi những cao điểm mới được Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù bàn giaotôi tháp tùng Chử Quân Anh đáp xuống phi trường Phan Rang. Đại tá Nguyễn Thu Lương, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 Dù, gieo thân hình cao lớn xuống chiếc ghế bố cá nhân, giọng bi phẫn: “Bộ chỉ có Nhảy Dù đánh giặc thôi sao?” Trung tá Sơn, Lữ đoàn phó, rủ ở lại qua đêm, “có gỏi gà, nhậu cho vui;” nhưng có người khuyên nên về Sài Gòn đề phòng bất trắc.

6G00 sáng hôm sau, 16/4/1975, Bắc quân mở đợt tấn công đầu tiên. Phi cơ VNCH đánh bom, gây thiệt hại nặng cho Bắc quân ở ngã ba Cà Ná. Tuy nhiên, Quân Đoàn 2 CSBV làm chủ thị xã lúc 7G20. Khoảng hai tiếng sau, Quân Đoàn 2 CSBV bắt đầu tấn công phi trường [Thành Sơn], phía Bắc Phan Rang. Giao tranh kéo dài tới 12 giờ trưa. (Lê Khả Phiêu 1985:38) Sơn “mù,” như nhiều người người lính trẻ khác, tử thương ở đợt pháo đầu tiên. Khi Chử Quân Anh và tôi vừa vào không phận Phan Rang, phi cơ quan sát của Sư Đoàn 6 Không Quân (mới từ Pleiku di tản về) bay chạy tán loạn lên không như bầy ong vỡ tổ. Đại tá Lương cùng các Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Phạm [?] Ngọc Sang (Sư đoàn 6 KQ) bị bắt sống trên đường đào tẩu. Binh sĩ Sư Đoàn 2 Bộ Binh vừa chống cự vừa rút về bờ biển ở phía Nam. Nhờ hải pháo yểm trợ, Tướng Nhựt, người hùng Xuân Lộc năm 1972 chưa xa, và một số binh lính thoát về Vũng Tàu—bến cuối tự do, nhưng đang ung thối dần vì sự hiện diện của các đám cướp mang vũ khí của chính phủ cùng nỗi hoang mang, sợ hãi của hàng trăm ngàn dân tị nạn miền Trung.

Trung tướng Nghi sau này được phóng thích trong dịp Tết Mậu Thìn (1988), với lý do “Cải tạo khá.” Chuẩn tướng Sang và Đại tá Lương cũng đều được ra tù, di dân qua Mỹ và Canada.

Tài liệu văn khố Việt Nam cho biết sơ qua về những vụ thả tù này. Nhân dịp Quốc khánh 2/9/1987, chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã phóng thích 11 tù nhân cấp Tướng và Bộ trưởng, cùng khoảng 400 người khác. Sau đó, phóng thích 67 người nữa. Tới tháng 1/1988, còn 1,173 người, gồm 526 sĩ quan (20 cấp Tướng, 135 Đại tá, 39 tuyên úy, 33 Trung tá trở xuống), 611 công chức (196 cảnh sát, 367 An ninh-Tình báo, 48 công chức các cấp, 36 đảng phái “phản động”). Cao Đăng Chiếm, Thứ trưởng Nội vụ, đề nghị tha hầu hết các tù nhân “diện Z6” nói trên làm ba đợt: Tết Mậu Thìn (1988), ngày “giải phóng” 30/4/1988 và Quốc Khánh 2/9/1988. Tuy nhiên, Phạm Văn Thiện [Phạm Hùng] và Phan Văn Hòa [Võ Văn Kiệt] quyết định tập trung thả đồng loạt trong dịp Tết âm lịch để tạo phản ứng chính trị. Cuối cùng, Bộ Nội Vụ đề nghị thả 1,020 người trong dịp Tết (500 sĩ quan, gồm 11 Tướng, 121 Đại tá, 37 Tuyên úy, 331 Trung tá trở xuống; 492 “ngụy” quyền, kể cả 2 bộ trưởng, 1 thứ trưởng). Còn lại cần tra cứu kỹ càng hơn: 9 Tướng, 11 Đại tá, 121 “ngụy” quyền, 11 Đảng phái).

Nhật ký làm việc của tôi ghi:

Danh sách những người được tha dịp Tết Mậu Thìn (1988):

Nguyễn Vĩnh Nghi [Trung tướng, sinh năm 1932 tại Gia Định. Vợ, Nguyễn Thị Tuyết, 1937, 4 con, buôn bán, ngụ tại 39 Phạm Ngũ Lão, Q 1, Sài Gòn]. Lý do tha: Cải tạo khá.

Văn Thành Cao [Thiếu tướng, Tổng Cục Phó TCCT, sinh năm 1924 tại Gò Công. Vợ, Nguyễn Thị Hà đã chết; 7 con, 1 ở Pháp, 3 ở Mỹ, 3 còn ở Sài Gòn]. Lý do tha: Cải tạo khá.

Lê Văn Tất [Thiếu tướng, sinh 1923, Tỉnh trưởng Tây Ninh. Tập trung cải tạo ngày 10/12/1975. Chưa có vợ]. Lý do tha: Cải tạo khá. Sức khoẻ yếu.

Trần Quốc Lịch [Chuẩn tướng, sinh 1935, Hà Nam Ninh. Vợ Nguyễn Thị Xuân Hương, sinh năm 1936. 5 con]. Lý do tha: Cải tạo khá. [Thực tế, Tướng Lịch đã bị cách chức, chỉ còn lon Đại tá, bị bắt giữ trên đường đào tẩu].

Trần Văn Cẩm [Chuẩn tướng, sinh 1930 tại Quảng Trị, Phụ tá hành quân QĐ II. Vợ Trần Thị Bạch Yến, đã sang Mỹ, cùng 6 con]. Lý do tha: Cải tạo khá.

Lý Bá Hỷ [Chuẩn tướng, sinh 1923 Hậu Giang, Tư Lệnh Phó Biệt khu thủ đô. Tập trung cải tạo ngày 15/6/75. Vợ Nguyễn Thị Ánh Duyên, đã đi Pháp cùng 3 con; một con làm công nhân ở Vũng Tàu]. Lý do tha: Cải tạo khá. Sức khoẻ già yếu.

Lê Văn Tư [Chuẩn tướng, sinh 1931, Mỹ Tho. Tư Lệnh SĐ 25. Về hưu với cấp Đại tá tháng 7/1974. Vợ Võ Thị Hương, 9 con]. Lý do tha: Cải tạo khá. Sức khoẻ yếu.

Hồ Trung Hậu [Chuẩn tướng, sinh 1931, Bến Tre. Thanh tra QĐ III, nguyên Phó Tư lệnh SĐ Dù. Vợ Nguyễn Thị Hội, 7 con. 1 con đi Mỹ]. Lý do tha: Cải tạo khá.

Lý Tòng Bá [Chuẩn tướng, 1931, Cần Thơ. Tư Lệnh SĐ 25 BB. Vợ Chung Bạch Vân, 2 con, qua Mỹ]. Lý do tha: Cải tạo khá.

Lê Trung Tường [Chuẩn tướng, 1927, Thừa Thiên. Tham Mưu Trưởng QĐ III. Vợ Hoàng Thị Trang, 51 tuổi, kẹt lại Việt Nam]. Lý do tha: Cải tạo có tiến bộ.

Hồ Văn Châm [sinh năm 1932, Thừa Thiên. Tổng trưởng Dân vận, Chiêu hồi. Vợ Lê Thị Phương Anh]. Lý do tha: Cải tạo khá.

Trần Trung Dung [1914, Hà Nội. Vợ Nguyễn Thị Anh, cùng 4 con qua Pháp]. Lý do tha: Già yếu.

Bùi Thế Dung [sinh 1936 tại Ninh Bình. Thứ trưởng Quốc Phòng. Vợ Trần Thị Lạc Hà, và 1 con đi Mỹ từ 1984].

Phan Phát Huồn [sinh năm 1926 tại ThừaThiên, Trung tá Tuyên úy].

 

Danh sách đối tượng được các tổ chức ân xá can thiệp:

Thượng Nghị Sĩ + Dân biểu: 13 người (Trần Trung Dung, Nguyễn Lý Tưởng [1940, Quảng Trị, UVTW Đại Việt, TUV Báo chí, DB, Bị bắt: 15/6/1975. Vợ: Phan Thị Thu Hương, 1950, 5 con]; Trương Vị Trí [1942, Rạch Giá, Phó TTK Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến (1969), vợ: Hà Bích Ngọc, 4 con]; Trương Văn Nguyên [1936, Phú Khánh, tập trung cải tạo ngày 6/10/1975, vợ Nguyễn Thị Yến, 2 con]; Nguyễn Ngọc Tân [1921, Vĩnh Long, Tân Đại Việt, bị bắt ngày 27/6/1977, vợ Trương Ngọc Phúc, 1 con]; Đoàn Mại [BĐQ]; Trần Minh Nhựt [1938, Biên Hoà, trưởng phòng Yểm trợ Phản gián Tình Báo TW (1957), Dân biểu (1967-1975)].

Quân đội: Lý Tòng Bá.

Cảnh Sát-An Ninh Quân Đội: Phạm Kim Quy [1930, Chợ Lớn, Đại tá, trưởng khối Tư pháp Bộ Tư lệnh CSQG, vợ Nguyễn Thị Kim Thanh + 2 con học Y khoa ở Pháp]; Nguyễn Văn Bê [Bé?] [1930, Sóc Trăng, Đại tá, trưởng khối Hành quân BTL CSQG, vợ cả, Trần Thị Hai, ở Sài Gòn, 7 con (1 Mỹ, 2 Pháp, 3 Canada), vợ hai, Khúc Minh Thơ, Sài Gòn]; Nguyễn Trí Tuệ [1933, Hà Nam Ninh, Trung tá, trưởng phòng điều tra tổng quát Cục ANQĐ, vợ Nguyễn Thị Ngọc Diệp, 4 con]; Đinh Văn Phúc [sinh 1929, Trung tá, trưởng phòng Nhân viên, Cục ANQĐ].

Chính trị: Phan Ngô [sinh 1921, Quảng Nam, VNQDĐ [Hồ Thị Phin, 1921, 9 con (2 ở Mỹ)]; Phan Vỹ [1923, Quảng Nam, VNQDĐ, [Nguyễn Thị Hợi, chưa con].

Tôn giáo: 35 linh mục và tuyên úy (kể cả Phan Phát Huồn). (TTLTQG 3 [Hà Nội], Quốc Hội, HS 6434).

 

Đa số những cựu tù nhân chính trị trên đã di cư ra nuớc ngoài. Nhiều người đã qua đời. Nhưng một số ít chọn ở lại Việt Nam, như Nguyễn Hữu Có, cựu Tư lệnh Quân đoàn II, rồi Phó Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Phó Thủ tướng). Trung tướng Có bị cải tạo 12 năm, không qua Mỹ vì “thân nhân không được tháp tùng.” Ngày Thứ Sáu, 25/3/2005 vừa qua, ông Có cùng cựu Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và Triệu Quốc Mạnh họp báo với Nguyễn Đình Đầu tại Sở Ngoại Vụ TP/HCM. Chuẩn tướng Cảnh Sát Mạnh, nguyên Phó Biện lý, được Đại tướng Minh cử làm Giám đốc Cảnh Sát Đô Thành, không bị đi cải tạo. (Tuổi Trẻ, 26/3/2005) Một cựu cán bộ lãnh đạo của CSVN tại Sài Gòn, ông Trần Bạch Đằng, khẳng định Mạnh là cán bộ nằm vùng. Tướng Hạnh, theo những thông tin ở Việt Nam, nghiêng về Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã lâu, nên không đi cải tạo, chỉ tham dự những khoá huấn luyện chính trị tại chỗ trong 18 tháng. Lúc 11G00 ngày 30/4/1975, Tướng Hạnh, Phó Tổng Tham Mưu trưởng—thay mặt cho Trung tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Vĩnh Lộc đã biến dạng—kêu gọi quân nhân VNCH triệt để tôn trọng lệnh ngưng bắn, trong khi các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ tự sát để bảo toàn khí tiết của tướng giữ thành.

Khó thể không bồi hồi thương cảm và kính phục những người lính Sư đoàn 25, Nhảy Dù hay Không quân đã tử thủ các căn cứ Đồng Dù, Hoàng Hoa Thám, Phi Long (Tân Sơn Nhất), v.. v… trước sức tấn công áp đảo của Bắc quân trong hai ngày 29-30/4/1975, giữa cảnh huống tối lạnh hy vọng, khi các cấp chỉ huy đã đào ngũ, rã ngũ, cao bay xa chạy. Phe chiến thắng, suốt bao năm qua, đã không ngừng nhục mạ họ là ngụy quân, ngụy quyền, tay sai đế quốc Mỹ. Nhưng lịch sử đã và sẽ chứng minh rằng họ đã sống những cuộc sống hoành tráng, chết những cái chết vĩ đại để bảo vệ niềm tin cao cả và thiêng liêng của họ—đó là duy trì một miền Nam như chốn dung thân cuối cùng cho những người cần tự do như khí trời.

Tôi không quen Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, nhưng từng được tăng phái hành quân chung với cựu Đại úy Lê Văn Hưng ngày còn ở Cà Mâu, và Đại tá Nguyễn Khoa Nam của Lữ đoàn 3 Dù, từ trại quân cụ Ngã Năm Chuồng Chó tới Huế. Số người thực sự quen biết, xan xẻ những đêm dài đợi sáng trên trận địa, bừng bừng khí thế lao vào mục tiêu “cho đạn tránh mình mà chẳng phải mình tránh đạn” khi từ trực thăng nhảy xuống, hay những tiệc rượu mù say giữa hai cuộc hành quân một thời, cũng quá ít so với hàng trăm ngàn tử sĩ vô danh của miền Nam. Đại đa số những cái chết trẻ, chết bất ngờ, đủ cách, đủ kiểu tại bất cứ nơi nào tử thần muốn lên tiếng điểm danh—của cả hai phe—là bằng chứng bi thảm của thân phận thanh niên một nước nhược tiểu, những con chốt qua sông cho quyền lợi của bất cứ một cường quốc nào, ngoại trừ quyền lợi đích thực của dân tộc Việt. Mọi và mỗi thanh niên Việt—của cả hai phe—chẳng ai muốn cả hơi, dài giọng xưng tụng thánh minh, trường thọ bất cứ một ngoại nhân nào cổ võ bạo lực, dù bạo lực cách mạng, hay bạo lực thuần vì bạo lực. Luật kẻ thắng không thể bẻ cong sự thực sử học.

Nên, qua những phương tiện riêng tư, tôi đã âm thầm đến Nghĩa Trang Quân Đội cũ, thắp một bó nhang vinh danh những tử sĩ của cả hai phe cùng hàng triệu nạn nhân khác của cuộc nội chiến bi thảm suốt hơn 30 năm dài. Và, một chiều Chủ Nhật hạ tuần tháng 4/2005, dưng dưng nước mắt đi tìm dấu tích những chuồng cu, đài tử thần cùng doanh trại xa xưa trong khu phố Hoàng Hoa Thám gần Ngã Tư Bảy Hiền. Tất cả chỉ còn trong tưởng nhớ. Những khu nhà phố khang trang, công viên, những dòng xe cộ đã xóa hẳn cảnh tượng kỷ niệm một thời.

 

Gần nửa đêm vẫn chưa thể giỗ giấc. Từng điếu Captain Black nối nhau dìu thời gian qua mau. Cam Ranh. Nha Trang. Lương Sơn. Ninh Hòa. Tuy Hòa. La Hai. Ga Diêu Trì (Qui Nhơn). Tầm mắt cố truy tìm, bắt với kỷ niệm qua những đốm đèn đường, những ngọn lửa vàng quạch từ các vụng biển, những đường đỉnh căng cứng xúc động. Ba mươi năm. Nhớ hai câu thơ của Nguyễn Phước Thời [Tự Đức]: Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng, Xếp tàn y lại để dành hơi.

Cái bóng tôi đang truy tìm một cách vô vọng đêm 30 tháng tư này không phải một mỹ nhân, hay một người tình mà khoé mắt, tiếng cười khiến một người đàn ông cảm thấy mình xứng đáng là đàn ông hơn. Hầu hết bạn gái cũ đều đã tóc bạc, da mồi, gặp lại chỉ nao nao hồi tưởng, bẽ bàng, xa lạ cho tao ngộ cá nhân và cảnh đời hiện tại, với nỗi thấu hiểu cay chua về sự lạnh lùng, phi nhân của sợi chỉ trên tay con trẻ. Không, cũng chẳng có thoáng tham vọng về chính trị hay danh lợi cá nhân. Tôi đã đủ trưởng thành để nhận hiểu một cá nhân khó thể tiếp tục nuôi dưỡng mãi hận thù, hờn oán trong cảnh đổi thay một triều đại. Hơn nữa, tôi đã lựa chọn, một lựa chọn tự nguyện, đất lành chim đậu. Nên, điều tôi thiết tha, mê mải tìm kiếm là ánh sáng hy vọng cho tuổi trẻ Việt trong tương lai. Ánh sáng hy vọng ngà ngọc, trân quí mà từ thế hệ cha chú, anh em tới con cháu tôi chưa một lần được cảm nhận, dù đã bao lần tìm tòi mơ ước. Ánh sáng hy vọng ngà ngọc, trân quí ấy, có thể chăng, dấy lên từ những giải núi, thước sông, những đợt sóng biển dập dềnh trĩu ngập bóng đêm? Hay chỉ là những ảo vọng, do trí tưởng mình tự vời vẽ, tự che dấu mình sự thực?

Ai đã đọc qua hồi ký Trả Ta Sông Núi của cựu Đại tá Phạm Văn Liễu—tức người chiến sĩ cách mạng Trần Trung Sơn—đọc bằng tâm nhãn mà không phải cặp mắt trần tục đầy ganh tị, oán hờn, mới cảm nhận được đôi ba góc cạnh của thảm kịch da vàng mà dân tộc Việt phải gánh chịu suốt hơn hai thế kỷ qua. Chúng ta đã phải vừa hò hét vừa chĩa súng dao vào bụng, vào ngực, vào cổ nhau mà bóp cò, đâm chém thật vô nghĩa, phi lý và bất nhân. Chúng ta khom lưng, quì lạy ngoại nhân như những Moises và Jacobs trên con đường hiện đại hóa và văn minh hoá, chẳng hề biết rằng phía sau những chiêu bài đại đồng, đấu tranh giai cấp, dân chủ, tự do ẩn dấu biết bao lọc lừa, man trá và bạo lực của thế giới Luật Kẻ Mạnh. Oái oăm là người cầm quyền nào cũng ra công bưng bít sự thực, điều kiện hoá những khối óc tuổi trẻ bằng đủ loại truyền đơn, khẩu hiệu. Khiến không ít nạn nhân của họ sẵn sàng gọi bò sữa những con cọp đói, mẹ nuôi, những mụ phù thủy gian ác.

Chắc chắn hơn nửa số dân Việt Nam hiện nay chẳng được chứng kiến cảnh từ chức của Nguyễn Văn Thiệu hơn ba chục năm trước— 20G30 ngày 21 tháng 4 năm 1975. Quân phục ka-ki vàng, với ba sao lấp lánh trên ve áo, Thiệu mở đầu bài diễn văn “quan trọng” của mình bằng cách thú nhận đã cho lệnh di tản Vùng I và Vùng II Chiến Thuật; nhưng các Tướng lãnh thừa hành không hoàn tất nhiệm vụ, gây nên cảnh đổ vỡ trong hai tháng 3 và 4/1975. Tuy nhiên, theo Thiệu, nguyên cớ chính của tình trạng thảm bại hiện tại là “sự phản bội của người Mỹ.” Thiệu tuyên bố sẽ từ chức, cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay, nhưng sẽ “không đào nhiệm,” sẽ trở lại sát cánh bên các chiến hữu chống giữ miền Nam.

Phó Tổng thống Hương, 71 tuổi, khập khễnh chống gậy bước lên sân khấu. Giọng run rẩy, khàn đục, Hương tiết lộ đã từng ôm Thiệu mà khóc sau khi bị Kissinger cưỡng ép ký Hiệp định Paris 1973. Rồi, tuyên bố quyết đánh Cộng sản cho tới hơi thở cuối cùng. Tuy nhiên, đề nghị ngưng bắn để thương thuyết. Rồi Cao Văn Viên đọc nhật lệnh, kêu gọi quyết chiến đấu đến cùng. Nhưng ngay tối hôm đó, Đài tiếng nói CP/LTMN tuyên bố không chấp nhận thương thuyết với Hương—”một thứ tay sai của tay sai.” Dẫu vậy, Hà Nội vẫn để cửa ngỏ cho mọi vận động—Tại Pháp, Võ Văn Sung và Phạm Văn Ba lập lại hai điều kiện căn bản từ ngày 8/10/1974 và mới được đề cập thêm một lần nữa ngày 25/3/1975; tức Mỹ phải ngưng viện trợ cho VNCH, và thành lập ở Sài Gòn một chính phủ tán thành hòa giải, hòa hợp theo tinh thần Hiệp định Paris. Tại Tân Sơn Nhất, Võ Đông Giang cũng một lập luận trên.

Lời nguyền rủa “Mỹ phản bội” hay oán trách “Đồng Minh tháo chạy” của phe đảng Thiệu-Khiêm-Viên—tập đoàn cai thầu chống Cộng và cai thầu chiến tranh cuối cùng ở miền Nam—khiến toàn dân không cần che dấu lời nhục mạ bè lũ buôn dân bán máu, đang dàn dựng cảnh nước mắt cá sấu để bỏ chạy ra ngoại quốc với những tài sản khổng lồ. Nhưng những lời tố cáo Trung Cộng qua cuốn Sách Trắng của Bộ Ngoại Giao Hà Nội năm 1979 còn phơi bày những sự thực chua chát, gai góc hơn nữa về cái gọi là tình cảm quốc tế “môi hở răng lạnh” giữa “Trung Quốc” và những người cầm đầu Đảng Cộng Sản Việt Nam. Bạch thư Sách Trắng của Hà Nội chỉ sơ lược nói về việc Chu Ân Lai bắt Hồ Chí Minh phải chấp nhận chia đôi Việt Nam theo vĩ tuyến 17 tại Hội nghị Geneva 1954, hay tiếp tục “chống Mỹ . . . cứu Trung Quốc” cho tới người Việt cuối cùng, cho dẫu phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” trong giai đoạn 1965-1973. Tài liệu văn khố Trung Cộng, để đáp lễ, tiết lộ rằng những chiến công Biên Giới 1950, Điện Biên Phủ 1953-1954 đều do các quan Tướng Tàu đánh giúp cho Võ Giáp hưởng hào quang. Hay khoảng 300,000 “chuyên gia” Trung Cộng đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1965 tới năm 1973 trong cái gọi là cuộc chiến chống Mỹ. Điều ít người biết là chính Yên Bái, thánh địa của Việt Nam Quốc Dân Đảng và đất thiêng của tinh thần quốc gia mới Việt Nam, đã một thời được chọn làm Tổng Hành Dinh cho lực lượng “tài xế, công binh, tạp dịch” tham chiến của Trung Cộng.

Qua các tập hồi ký mới được tăng bổ năm 2001 để tự bào chữa trước lời tiết lộ của quan tướng Trung Cộng, Tướng Võ Nguyên Giáp mới chỉ nhắc đến những tên Trần Canh, Vi Quốc Thanh, La Quí Ba, Mai Gia Sinh. Lê Văn Hiến, qua Hồi ký của một Bộ trưởng, thêm vào những tên như cố vấn họ Triệu, họ Tiết trong các kế sách tận thu giảm chi, thuế nông nghiệp, v.. v… cùng những lời dạy bảo như “chớ nên mị dân.” Nhưng còn nhiều nữa, người Việt trong nước đều biết, mà chẳng dám hé môi. Các kế hoạch chỉnh cán, chỉnh quân (1951-1953) hay cải cách ruộng đất (1953-1957) nhằm tiêu diệt cái gọi là “thành phần địa chủ phong kiến” đều có dấu ấn Bắc Kinh. Nếu tin được một nguồn tin trong nước, chính cố vấn Trung Cộng đã ép Hồ Chí Minh phải mang ra đấu tố bà Nguyễn Thị Năm—tức Cát Hanh Long, người từng đóng góp cho kháng chiến bao tiền của, nuôi ăn, nuôi ở bao lãnh đạo CS từ Hồ tới Trường Chinh trở xuống. Sau khi phải tạm ngưng đấu tố trước sự chống đối của dân chúng và dư luận quốc tế, “Đảng ta” trút mọi trách nhiệm cho Trường Chinh, Lê Văn Lương, Hồ Đức Thắng mà chẳng dám nửa lời oán trách cố vấn Trung Cộng. Phạm Văn Đồng còn ngụy ngôn rằng kế sách Cải Cách Ruộng Đất đã “đạt thắng lợi cơ bản to lớn” là khiến giai cấp địa chủ phong kiến ngừng hiện hữu. Năm 1958, cũng chính Đồng viết thư cho Chu Ân Lai, chính thức nhìn nhận biên giới do Bắc Kinh vẽ ra, đưa đến những hiệp định cắt đất, cắt biển cho Trung Cộng trong hai năm 1999 và 2000. Và rồi là mối hận nhục biến Đông Nam Á tử năm 2013, mà thámg 3/2018, báo Deng Xiao-ping còn nhắc đẩn lệnh cấm đánh cá trên các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam.

Tháng 2/1979, sau khi được mời qua Liên bang Mỹ để đánh dấu việc bình thường hóa bang giao Mỹ-Hoa, Deng Xiao-ping [Đặng Tiểu Bình] còn ngạo mạn “dạy cho [Hà Nội] một bài học” võ lực. “Đồng Minh quân sự” của Việt Nam là Liên Sô chẳng dám nhảy vào can thiệp, chỉ cực lực phản kháng xuông. Ở một mắt nhìn tổng quan, chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 xứng đáng chăng là “chiến công vĩ đại nhất của thế kỷ 20”?Tuổi trẻ Việt Nam của thế kỷ XXI sẽ có câu trả lời cuối cùng.

 

Trở lại giường, cố giỗ giấc khi tàu lăn bánh rời ga Diêu Trì (Qui Nhơn). Ít ai biết tôi từng trải qua gần bốn tháng nơi này—quê hương của phong trào Tây Sơn hai thế kỷ trước. Bốn tháng dài cuối cùmh kiếp lính thú. Đoạn chót não buồn của 12 năm binh nghiệp, “Ta nương đời lính mà qui ẩn, Nghiêng nửa càn khôn dưới đáy bầu.” Với sự trợ giúp của các y sĩ Lan, Thắng, cùng người em họ tại trung tâm nội thương bệnh viện Duy Tân.

 

Thức giấc, tàu vừa vào ga Đà Nẵng. Những tia sáng đầu ngày bừng rạng chân trời. Đây là lần thứ ba trở lại quê hương thứ hai của mình. Đại gia đình tôi còn khá đông tại thành phố hải cảng đang mở rộng cho tài phiệt Singapore này. Vài cháu nội ngoại đã tốt nghiệp đại học. Nhớ Hồ Hoàng Tuấn méo, người bạn học trung học đệ nhất cấp mới từ trần vì ung thư. Chẳng hiểu việc gây quĩ học bổng của “nhóm bạn Hồ Hoàng Tuấn” có kết quả gì hay chăng. Tôi tin ở những bạn học cũ như Lê Tự Hỷ, Phan Nhật Nam, Hà Nguyên Thạch, Thái Thị Hoài, Nguyễn Hữu Hùng, v.. v… Khi trọn đời mình đã hoang phí vô ích trong cuộc biến đổi bản đồ chính trị thế giới, như những nạn nhân, việc duy nhất đáng và có thể làm là hưng lên một hy vọng cho tuổi trẻ. Một người trẻ thôi cũng tạm đủ.

 

6G15, tàu lại lăn bánh. 6G58, ga Hải Vân. Đường hầm xuyên qua Hải Vân chưa kịp hoàn tất theo dự trù. Tàu nặng nề uốn lượn theo những đường đỉnh mờ sương. 7G56, ga Cầu Hai. 8G43, ga Huế. 9G15, Phong Điền. Rồi Hải Lăng, Quảng Trị. Một trụ mốc ghi “Quảng Trị-Hà Nội 582 cây số.” 9G55, thị trấn Đông Hà. Cam Lộ.

 

Địa danh nào cũng đầy kỷ niệm. Nhất là con lộ 9 từ Cam Lộ lên Lao Bảo. Một ngày đầu tháng 2/1971, Trung tá Huỳnh Long Phi chỉ định tôi tháp tùng đoàn công-voa của Bộ Chỉ huy Pháo binh Dù ngược con đường 9 mới được tu sửa lên Khe Sanh, nơi đặt Bộ tư lệnh chiến dịch Lam Sơn 719—tức trận thử lửa thứ hai kế sách “Việt Nam hoá” chiến tranh. Điểm hẹn với Bắc quân là tỉnh lỵ Tchépone trên đất Lào, một tỉnh lỵ đã bị bom pháo san thành bình địa. Ý định của Tướng Abrams là muốn các sư đoàn tinh binh VNCH sẽ cắt đứt hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, và thử lửa với đại quân CSBV xa các trung tâm dân cư, dưới sự yểm trợ hùng hậu của không lực và pháo binh Mỹ từ lãnh thổ Việt Nam. Ngoài hai sư đoàn tổng trừ bị Dù và Thủy quân Lục chiến, Tướng Hoàng Xuân Lãm còn có trong tay Sư đoàn 1 BB, các đơn vị Biệt Động Quân cơ hữu, cùng một sư đoàn Thiết Giáp dưới quyền Đại tá Nguyễn Trọng Luật.

Ngày 8/2/1971, cánh quân Thiết giáp có Lữ đoàn 1 Dù tùng thiết chính thức vượt biên giới Lào-Việt ở Làng Vey, thẳng tiến tới Bản Đông. Lữ Đoàn 3 Dù được trực thăng vận xuống các căn cứ 30 và 31 ở phía Bắc đường 9. Sư đoàn 1 Bộ Binh được thả xuống phía Nam sông Xê-pan-ghiang. Ngoài ra, còn một số đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt và Biệt Động Quân ở phía Đông Bắc căn cứ 30. Trọn ba ngày đầu, Bắc quân không một phản ứng. Nam quân khám phá và chiếm được một số kho tàng. Nhưng từ ngày thứ tư, N+3—ngày tiếp tế đầu tiên của Nam quân—trận địa pháo Bắc quân bắt đầu hoạt động. Cuộc đổ quân của tiểu đoàn 5 Dù cũng thất bại, bị tổn thất nặng. Dường như Bắc quân đã bắt được phóng đồ hành quân của VNCH, sau khi trực thăng chở một bộ phận tiền phương của Phòng Hành quân Quân đoàn 1 bị bắn rơi. Từ ngày này, “mưa rơi” không ngừng trên các căn cứ hỏa lực Nam quân.

Mũi quân Thiết Giáp-Dù cũng bị chặn đứng quanh Bản Đông, không thể mở đường bắt tay với căn cứ 31 của Đại tá Thọ cách đó không đầy 10 cây số phía Bắc. Kế hoạch thả Lữ đoàn 2 Dù tại phía Tây phải tạm hoãn. Hai căn cứ 30 và 31 ung thối dần vì số thương binh ngày một gia tăng, công sự phòng thủ bị bóc mỏng từng giờ. Lao Bảo và Khe Sanh cũng có “mưa rơi.” Những buổi họp hành quân tại Bộ Tư lệnh Quân đoàn I, nét mặt các Tướng tá thẫm tối. Rồi, căn cứ 31 bị thất thủ, gần trọn Bộ chỉ huy Lữ đoàn 3 bị bắt sống. Những lời tuyên bố của Đại tá Thọ, cùng một số tù binh sĩ quan Dù, trên đài Hà Nội khiến lòng quân nao núng. Các đơn vị BĐQ bắt đầu rã chạy. Ít ngày sau, tại căn cứ 30, nửa tiểu đoàn 2 Dù uy hiếp trực thăng tiếp tế chạy về Khe Sanh; nhiều người bám cả vào càng trực thăng. Nửa tiểu đoàn còn lại đốt bỏ căn cứ, rút về bằng đường bộ. Nhờ sự yểm trợ chiến thuật của B-52 và phi vụ Hỏa Long Mỹ, một đơn vị Dù tiến lên được căn cứ 31, khi Bắc quân đã biến dạng. Một toán Hắc Báo Sư đoàn 1 Bộ Binh được trực thăng vận vào Tchépone đổ nát, trương lên lá cờ vàng ba sọc đỏ để quay phim “tài liệu” đã chiếm mục tiêu. Tiếp đó, Thiệu cho lệnh triệt thoái, dù Abrams phản kháng. Cuộc triệt thoái cũng gian nan, sắt máu. Một tiểu đoàn trưởng Dù hy sinh dọc đường. Hàng trăm thiết vận xa và thiết giáp bị dồn đọng ở khúc đèo cách Lao Bảo vài ba cây số. Nếu không có sự tiếp tay của Lữ Đoàn 2 Dù và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, khó thể dự liệu số phận Lữ đoàn 1 Dù và tàn quân Sư đoàn 1 Bộ Binh.

Gần nửa đêm ngày 4/4/1971, tôi cùng 7 tàn binh pháo đội B-3 Dù đặt chân xuống phi cảng Tân Sơn Nhất. Những muốn cúi xuống hôn lên mặt phi đạo, nói lời cảm tạ đất trời, là mình cùng các thuộc hạ đã được yên ổn trở lại miền Nam cháy nắng. Khả năng những người lính VNCH chỉ có thế. Nam quân đã có những tiểu đoàn vô cùng thiện chiến, thừa sức đương đầu các đơn vị Bắc quân. Nhưng từ cấp sư đoàn trở lên, khả năng phối hợp, chỉ huy yếu kém. Chiến dịch Hạ Lào còn khiến mất đi bao cán bộ dày dạn kinh nghiệm. (Sư đoàn 1 Bộ Binh, trong số 9 tiểu đoàn trưởng, chỉ có 1 người an toàn về căn cứ) Về vũ khí, Nam quân thua Bắc quân một bậc. Chẳng cần đợi tới chiến dịch Xuân-Hè 1972, thế thắng bại đã rõ. Về phương diện chính trị, còn thảm não hơn nữa. Từ năm 1945, Miền Nam chưa bao giờ có một lãnh tụ vì dân và do dân. Những người được đưa lên nắm quyền chẳng là gì khác hơn những tay cơ hội chủ nghĩa, cai thầu chống Cộng, hay cai thầu chiến tranh. (Một linh mục từng đăng đàn diễn thuyết ở Hố Nai về việc Đại sứ Henry Cabot Lodge mang 45 triệu Mỹ kim giáo dân Mỹ gửi tặng giáo dân Việt để cung phụng các lãnh tụ Phật Giáo (sic)).  Trong khi đó, các tôn giáo, đảng phái chẳng bận tâm gì hơn quyền lợi tư riêng, tranh giành từng lời ăn, tiếng nói, từng món tiền trợ cấp hay mặt hàng viện trợ, hay hàng Mỹ “lương được,” bán ra thị trường làm giàu. Thiếu tá Ngọc, phụ trách an ninh phi cảng Tân Sơn Nhất, từng bị một linh mục sai giáo dân dùng cây gỗ có đinh sắt đánh vào đàu, phải vào Tổng Y viện Cộng Hòa điều trị, vì đã dám ngăn cản đường mòn trộm cắp. Rồi đến những ngày Phật Gíao-Ki tô giáo tranh hùng trên các phố phường, quanh các Phật tự hay nhà Thờ, trường học, từ 1964 tới 1966. Năm 1967, nhờ sự tiếp tay của Đại sứ Ellsworth Bunker, tàn dư Cần Lao bắt đầu phục hồi quyền lực, quyết viết cho bằng được vào Hiến Pháp ba chữ “Đấng Thiêng Liêng” và mưu mô “thánh hóa” anh em Ngô Đình Diệm—những người trong giai đoạn  1954-1959  đã chặt cắt từ rễ gốc khả năng tồn tại của miền Nam Việt Nam như  chốn dung thân cuối cùng cho những người khát khao một đời sống tự do, dân chủ; nhất là khoảng 600,000 dân Bắc di cư, và từng khiến các Giáo hoàng phải thất vọng, không cho Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục yết kiến, trong khi Cố vấn An Ninh Quốc Gia McGeorge Bundy phải ngao ngán than thở về khi đón tin Tổng Giám Mục Thục đã từ Roma bay sang Mỹ để tiếp tay “cá sấu cái” Trần Thị Lệ Xuân sang “giải độc trong dư luận Mỹ–nhưng thực chất chỉ đào sâu hơn mộ chí của những người đang hăm hở đạp đổ những gì còn sót lại sau chin năm cai trị, trong quyết định không ăn được thì đâp đổ, có thể đã hình thành trong buổi họp gia đình tại Huế, nhân dịp lễ Tae Dum 35 năm Thục được thụ phong Giám Mục Vĩnh Long. (Tài liệu văn khố Đệ I Cộng Hòa, và Phủ Thủ tướng VNCH ở Sài Gòn có những tư liệu khtến không thể không nghĩ đến sự liên hệ giữa Lễ Tae Dum của Thục và lệnh cấm treo cờ ngày Phật Đản 1963, nguồn gốc của mọi tật tội, khới đầu đám tang họ Ngô).

 

Phía Bắc quân cũng chẳng vui thú gì hơn. Một cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Đông Nam của Trung Hoa. Huyền thoại kiểu Mao-ít như anh hùng Điện Biên lấy thân chèn pháo, hay rút dao chém rụng cánh tay bị thương để tiếp tục tiến chiếm mục tiêu, chỉ khiến thêm tủi phận những tù binh Cộng Sản trong các trại cải tạo nhiều năm tháng sau ngày được Pháp trao đổi theo Hiệp ước đình chiến 1954. Thượng Tướng CS Đặng Vũ Hiệp, ghi trong hồi ký rằng một “anh hùng Diệt Mỹ” đào ngũ ngay sau đêm dự “tiệc liên hoan” tại hậu cứ. Những cuộc thanh trừng phe “xét lại” (thân Nga) trong thập niên 1960 hay thân Tàu trong thập niên 1970, kể cả việc Hoàng Văn Hoan đào thoát qua Bắc Kinh, tự chúng đã nói lên thân phận những người dân miền Bắc.

Ngắn và gọn, Đảng CSVN có thể đã thắng, nắm độc quyền cai trị và độc quyền yêu nước; nhưng toàn dân Việt Nam đi từ thất bại này sang mất mát khác. Nghĩ cho tận kỳ lý, cay nghiệt thay, cuộc nội chiến 1954-1975 chỉ có người thua. Ngay đến những huyền thoại về chủ thuyết Cộng Sản đã tan tành như bong bóng xà phòng trong mắt dân Việt sau ngày người lính đặc công leo lên tầng thượng Dinh Độc Lập, khoa múa lá cờ MT/GPMN—lá cờ rồi cũng ngừng hiện hữu từ cuối năm 1976. Chỉ có những thanh niên, thiếu nữ vô tội bị biến thành những tên lính lê-dương trên chính quê hương mình, trong một cuộc chiến tối lạnh hy vọng từ 1949 tới 1975. Chỉ có những làng xóm, thôn bản bị xan thành bình địa hay làm mồi cho ngọn lửa. Giấy bút nào ghi cho hết những tội ác chiến tranh [war crimes] và tội ác chống lại nhân quyền [crimes against Human Rights]. Của cả hai phe.

 

Từ Quảng Trị ra Vinh, đường xe lửa mới được xây cất lại. Thất vọng đầu tiên của chúng tôi là tàu không qua cầu Hiền Lương, cây cầu biên giới suốt 21 năm, mà tách khỏi vùng duyên hải, chạy xuyên qua rừng núi phía Tây. Hà Thanh. Ga Tiên An. Sông Bến Hải. Từ đây trở ra miền Bắc thật hoàn toàn lạ xa.

Ga Mỹ Trạch. Cầu Mỹ Trạch. 11G03, ga Mỹ Đức. 11G21, tàu vào địa phận tỉnh Quảng Bình. Đang có nỗ lực biến Quảng Bình thành một điểm du lịch. Báo chí nói về những Động Phong Nha, v.. v… Xuống ga Đồng Hới, chụp vài tấm hình kỷ niệm. Cũng muốn ghé thăm sông Gianh, biên giới Bố chính thượng và Bố chính hạ phân chia Nam-Bắc, Trịnh-Nguyễn hơn một thế kỷ. Nhưng đành tự khất một cơ hội khác.

Ngân Sơn. Sông uốn quanh chân đồi. Minh Lễ, có những trụ điện cao thế từ dãy núi phía Tây về các thị trấn miền Đông. Ga Lạc Sơn. Rải rác nhiều nghĩa trang của các cộng đồng Ki-tô. Nhà cửa  cũ kỹ, nghèo nàn. Ngọc Lâm. Đồng Lê. Kim Hòa. Kim Lũ. Cầu Khe Mêt. Nhiều lần nhìn về những đường đỉnh chập chùng phía Tây phóng tìm các mật khu của Ngự sử Phan Đình Phùng, thuộc vùng trách nhiệm của Ngô Đình Khả, một phụ tá đắc lực của Nguyễn Thân trong hai năm 1895-1896. Thân được Hội đồng Cơ Mật trao cho kiếm thượng phương, tiền trảm hậu tấu, để tiêu diệt cho bằng được vị lãnh tụ Cần Vương kháng Pháp cuối cùng ở vùng Hà Tĩnh-Quảng Bình. Sau khi Ngự sử Phùng từ trần, Khả và Thân đã cho lệnh Lê Tựu Khiết đào mả cụ lên để nhận diện, rồi tro xác tung đi bốn phương “theo đúng truyền thống [luật pháp] An Nam.” Đáng buồn là có người vẫn tin lời chứng gian của một “đại quan đã về hưu” mà tác giả Trần Trọng Kim trích dẫn rằng không có việc này—lời chứng bị báo cáo của Khâm sứ Pháp vào tháng 2/1896  và nhiều tư liệu văn khố khác hoàn toàn bác bỏ. (Xem Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1884-1945, 3 tập (Houston: Văn Hóa, 1999-2000), tập II)

14G08, Thanh Luyện. Hoa Duyệt. Yên Duệ. Lạc Trung. Đồng Giây. Yên Trung.

Tới ga Vinh, tàu nghỉ 7 phút. Từ đây vào thành phố còn khoảng 15 cây số. Lại thêm một lần thất vọng khi không được nhìn ngắm chiếc nôi của cách mạng và chính trị Việt Nam.

Nghi Lộc. Diễn Châu. Tàu chạy qua thung lũng. Cây cỏ xanh tươi. Vào ga Thanh Hoá khi trời đã nhạt nắng. Yên Sơn, Bỉm Sơn, Sông Trà. Chiều tối, vào địa phận Ninh Bình, ga Đồng Giao, thị xã Tam Điệp, Hoa Lư, Phủ Lý.

Nam Định đã lên đèn. Dịch cúm gà đã lan ra tới tỉnh Nam. Từ ngày 26/12/2004 tới nay trên toàn quốc đã có ít nhất 28 trường hợp dương tính virus [vi-rút] H5N1, 14 người trong số này tử vong. [Cuối tháng 6/2005, số bệnh nhân nhiễm vi-rút lên tới 60 người, 19 người thiệt mạng. Hàng triệu gà vịt bị tiêu hủy. Các chuyên viên đang báo động về một loại vi-rút biến tính] Thiên tai, bệnh tật, nghèo khó triền miên. Phải chăng đó là lời nguyền dữ cho cả một dân tộc?

20G28, tàu ngừng bánh ở ga Hàng Cỏ. Lượt đi của chuyến tàu Thống Nhất đã đến bến cuối. Mỉm cười nghĩ đến chuyến tàu Thống Nhất hơn bốn chục năm trước trong trường thiên Bi Kịch Vàng. Nhân vật chính của tôi, dù rất mờ nhạt là một “người khùng” vì biết quá nhiều. Trong các nhân vật phụ có bà mẹ già đi tìm xác con (tập I, Cuộc hành trình cuối cùng, Đại Ngã, 1970), một thương binh VNCH (tập II, Vết Chém, Đại Ngã, 1970), một thương binh Bắc quân, một thượng tọa, một linh mục, một góa phụ, một chính khách, một cô gái lai đen về quê nhận thừa tự, v.. v… Tôi cho các nhân vật chính của mình tham dự chuyến đi trên một con tàu Thống Nhất mà ngày nay thường gọi là “tàu chợ.” Nhưng chuyến tàu Thống Nhất của Việt Nam, từ ít năm qua, đã khá hiện đại, khác hẳn thập niên 1970-1980. Những chuyến tàu cao tốc, khoang giường chẳng thua kém tàu Pháp. Nếu có cơ hội viết lại Bi Kịch Vàng, chẳng hiểu nên chọn bối cảnh nào—tàu chợ của những ngày mới “giải phóng,” hay chuyến tàu thống nhất khá tiện nghi hôm nay? (Xem National Union Catalog của Library of Congress nåm 1977)

 

Lào Cai-Sa Pa

 

Phần vì đang mùa lễ hội, khách du lịch đông, và để dự phòng việc tàu Thống Nhất không tới ga Hà Nội đúng giờ, từ lúc ở ga Vinh, ông trưởng toa đã gọi điện thoại mua giúp hai ghế nằm trong một khoang 6 giường của chuyến tàu Lào Cai bình thường. Cũng không có hai giường dưới liền nhau, đành mua một giường tầng 1, một giường tầng 2. Trong khi vợ chồng tôi chuyển hành lý xuống sân ga, người trưởng toa tiến lại đưa vé, chỉ lối tới bến đậu của tàu Lào Cai. Ông ta đã bỏ bộ đồ đồng phục. Rộng rãi móc tặng cảnh vệ đứng gần vài chục ngàn, trích từ tiền thưởng của chúng tôi.

Toa xe đi Lào Cai khá cũ, phòng vệ sinh thuộc loại cổ điển. Vì một khoang có tới 6 giường, khó thể ngồi thẳng lưng trên giường. Một khách thanh niên cùng khoang giúp tạm gấp chiếc giường tầng 2 của tôi lên để có chỗ ngồi.

22G00, tàu lăn bánh. Cùng khoang có một Thẩm phán, trưởng phòng Hình Pháp Lai Châu. Một thanh niên. Hai thiếu nữ. Tất cả đều niềm nở trao đổi với chúng tôi tin tức về Lào Cai, Sa Pa.

Không khí trong khoang sôi động hơn khi tôi gợi lại những điều ghi nhận được về cuộc xâm lăng Việt Nam của Đặng Tiểu Bình, để gọi là “dạy cho Việt Nam một bài học.” Trả lời câu hỏi của tôi về những trận đánh tháng 2/1979 tại Lào Cai, một cựu nữ quân nhân cho biết dân chúng được lệnh di tản hết xuống Yên Báy vào nửa đêm. Nhà cửa bị quân Trung Cộng dùng súng phun lửa thiêu rụi. Một số đơn vị Việt Nam rã ngũ, bỏ chạy xuống Phố Lu, rồi Yên Báy. Chi tiết này cũng từng được khẳng quyết với tôi qua hai cựu quân nhân, kể cả một thiếu úy trung đội trưởng, ngày mới tới Hà Nội. Ông trưởng phòng Hình Pháp Lai Châu không đồng ý. Theo ông chỉ có một nông trường bị vỡ. SĐ 316 kéo lên giữ được tuyến phòng thủ Yên Báy. Tôi định tra vấn thêm về những lãnh tụ gốc thiểu số bị thanh trừng như Chu Văn Tấn, nhưng tự hiểu vấn đề rất nhạy cảm.

Trời đã khuya, câu chuyện trao đổi tạm ngừng. Tôi đứng thật lâu ngoài hành lang, nhìn vào đêm đen. Gia Lâm. Việt Trì. Con tàu nặng nề trườn mình lên miền thượng du. Ở một khoang gần đó, một nhóm thanh niên thiếu nữ tụ họp đánh bạc, uống rượu, cười nói thoải mái. Đa số đều mở mắt chào đời sau ngày 30/4/1975. Họ thuộc loại cháu nội, cháu ngoại của cách mạng, nên những khẩu hiệu như “cần, kiệm, liêm chính” trở thành tiếng cười dài. Ở Sài Gòn và Hà Nội, những “thiếu đại gia” không chỉ cờ bạc, rượu chè, trai gái, khoe xe, khoe nhà mà còn trở thành đầu đảng của những tổ quỉ, vung tay hàng chục triệu đồng một đêm cho thuốc “lắc,” bạch phiến và rượu ngoại. Thuở sinh thời, chắc Karl Marx khó thể tưởng tượng được rằng “những bị khoai” [bags of potatoes] của “cách mạng vô sản” có thể sống hoành tráng như hiện nay ở Việt Nam và Trung Hoa.

 

2G00 sáng ngày Thứ Hai 2/5/2005 [24 Tháng 3 Ất Dậu], tàu ngưng ở ga Yên Báy. Bóng đêm che khuất hầu hết cảnh vật. Cố tìm, dù biết là vô vọng, dấu vết Đồn Cao, hay pháp trường nơi 13 Liệt sĩ VNQDĐ đã hô vang câu “Việt Nam muôn năm” 75 năm trước.

Nghe nói trong thời gian 1965-1973, Yên Báy là nơi đặt Bộ chỉ huy “chuyên gia” Trung Cộng, nhưng chưa một tài liệu thành văn nào nhắc đến việc này. Từ năm 1991, người ta cố tình bỏ quên vai trò Trung Cộng cũng như quyền lợi chiến lược của Bắc Kinh trong cuộc chiến gọi là “chống đế quốc Mỹ xâm lược.” Tài liệu Sách trắng của Bộ Ngoại Giao Hà Nội và nhiều sách báo khác một thời ra công tố cáo tham vọng bá quyền nước lớn của Trung Cộng. Để đáp lễ, Trung Cộng công bố lá thư Phạm Văn Đồng viết cho Chu Ân Lai ngày 14/9/1958, chính thức nhìn nhận biên giới do Bắc Kinh công bố, hầu có viện trợ đánh chiếm (“giải phóng”) miền Nam. Chưa hết. Còn có việc chính khách và tướng lãnh Trung Cộng kể lể công lao của họ trong các chiến dịch “Biên giới 1950,” hay Điện Biên Phủ, khiến Võ Giáp phải nhiều lần sửa lại hồi ký. Càng sửa càng khó thuyết phục các sử gia và chuyên viên. Điều khó hiểu là tại sao Quân ủy Trung Ương Việt Nam chưa công bố hoặc giải mật những công điện giữa Bộ Tổng Tư lệnh với Bộ Chính trị Đảng Lao Động Việt Nam, hay giữa Bộ Chính trị hai đảng Cộng Sản “anh em” Tàu-Việt.  Mặc dù Tướng Giáp mới được khôi phục danh dự—làm một chuyến về quê bằng xe lửa, và rồi xuất hiện nhiều nơi—đàn em ông ở hải ngoại và trong nước ít năm qua mở chiến dịch bôi nhọ Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Chủ tịch Nhà Nước, về việc ngụy tạo tài liệu để hạ bệ Tướng Giáp. Họ tung tin Tướng Anh có hai bản khai lý lịch khác nhau, một bản nói được kết nạp năm 1938, bản khác khai kết nạp năm 1946. Còn có tin Tướng Anh từng làm cạp rằng đồn điền cao su, đánh phá cách mạng.

Trong Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia (văn khố) 3 tại Hà Nội, chỉ có bản lý lịch ghi Tướng Anh vào Đảng năm 1938. Xét về thành tích binh nghiệp, Tướng Anh có vẻ dày dạn trận mạc hơn Tướng Giáp. Ngày 30/4 vừa qua, Tướng Anh cũng xuất hiện tại lễ mừng “Đại thắng” ở Sài Gòn, hai mắt gần như đã mù. Cùng xuất hiện có Tướng Giáp và nhiều nhân vật một thời quyền uy khác như  Võ Văn Kiệt (Phan Văn Hòa), Lê Khả Phiêu, Mai Chí Thọ (Phan Đình Đổng) v.. v… Vẫn theo tin đồn dưới phố, có sự hiềm khích giữa Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải, hai “đại thế gia” miền Nam. Hiềm khích nảy sinh từ thập niên 1980 nhất là sau khi có đụng chạm giữa con cháu hai người—những “con cháu cách mạng” huyền thoại của xã hội trưởng giả miền Nam hiện nay. Đã từng có lần nữ văn sĩ Dương Thu Hương dùng những lời nặng nề để công kích Thủ tướng Khải, và xuất hiện tin đồn rằng ông ta sẽ bị thay thế vào năm 2001. Mới đây lại có tin Võ Văn Kiệt đụng chạm với Nguyễn Khoa Điềm, Ủy viên Bộ Chính Trị, đặc trách văn hóa-tư tưởng. Khó thể khẳng định đâu là sự thực trên bối cảnh cuộc dàn xếp nhân sự cho Đại Hội kỳ X sắp tới, dự trù vào mùa Hè 2006—một Đại hội chắc chắn sẽ có những thay đổi lớn về nhân sự cũng như chính sách. Hai ứng cử viên nhiều hy vọng cho chức Tổng Bí thư là Phan Diễn và Nguyễn Minh Triết, Bí thư thành phố HCM. Nhưng Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An và nhất là Phó Thủ tướng Vũ Khoan cũng là những nhân vật sáng giá. Lớp sương mù chỉ mỏng nhẹ dần sau chuyến thăm Paris của Nông Đức Mạnh, thăm Mỹ của Phan Văn Khải, và đi Bắc Kinh của Trần Đức Lương sắp tới. Người hiểu biết nội tình Việt Nam cho rằng vấn đề nhân sự không quan trọng. Vấn đề là ai đủ khả năng đi giây giữa các nhóm “hữu khuynh” (thiên về Tây phương) và “tả khuynh” (thân Tàu). Điều đáng ghi nhận là sự thờ ơ của đám đông với Đại hội X cũng như kết quả các cuộc “bầu bán.” Đại đa số dân chúng, tức giai tầng bị trị, tin rằng chẳng có công lý nào cho họ. Và tự do duy nhất họ được hưởng là tự do sợ hãi và cơ hàn. “Chúng cháu sợ những con ma nhà họ Hứa rồi,” một thanh niên nói qua tiếng cười ròn.

 

5G00 sáng, tàu tới Phố Lu, phía Nam Lào Cai khoảng 40 cây số. Ông Thẩm phán Lai Châu cũng đã thức giấc, tới đứng hút thuốc bên tôi. Ông cho biết Lào Cai là thành phố khá giả nhất miền thượng du Bắc bộ. Hai nguồn lợi tức chính là thương mại với Trung Hoa và thai thác trung tâm du lịch Sa Pa. Lai Châu mới tách ra khỏi Mương Lay (Lai Châu cũ) thành một tỉnh mới, với Phong Thổ làm tỉnh lỵ. Mương Lay trở thành một thị xã của tỉnh Điện Biên. Lai Châu mới và Lào Cai giáp ranh nhau ở gần Tháp Bạc (Sa Pa). Hơn 80% ngân sách tỉnh do trung ương cấp. Các giáo viên người Kinh sống như những nhà tu tại các thôn bản, nhiều khi phải mua bánh kẹo cho học sinh để khuyến khích các em cháu đến lớp. Một số dân H’Mông theo đạo Tin Lành từng bỏ bản trốn qua Vân Nam, rồi kéo nhau trở về. Mối đe dọa lấn đất của dân Tàu diễn ra hầu như hàng ngày. Biên phòng Việt Nam quá ít, lại thiếu phương tiện và nhân sự. Các trụ mốc biên giới không thay đổi, nhưng lãnh thổ giữa những trụ mốc trên bị dân Tàu xâm lấn dần. Khai đắp lại những bờ suối cho chảy vòng về phương Nam. Trồng chuối, làm nhà để có thể tuyên bố “ở đâu có chuối là lãnh thổ Trung Quốc.” Đó là chưa nói đến những kế hoạch thiết lập nhà máy thủy điện, có thể thay đổi hẳn lưu lượng các sông chảy qua Việt Nam. Một trong những hậu quả là đập nước thủy điện Hòa Bình đang ở mức báo động.

 

Tôi tò mò hỏi về quê ông thẩm phán. Ông nói Thái Bình. Không ít những cán bộ cốt cán hiện nay có xuất thân từ Thái Bình. Đây là vùng đất được Nguyễn Công Trứ khai khẩn dưới thời nhà Nguyễn. Trong số những cán bộ Cộng Sản nổi danh nhất Thái Bình phải kể cựu Trung tướng Trần Độ (1923-2002).

Trần Độ, còn được biết như “anh Chín” hay “chín Vinh” là bí danh của Tạ Ngọc Phách, quê xã Tây Giang, huyện Tiền Hải, Thái Bình. Tham gia sinh hoạt “cách mạng” từ năm 1938, năm 1941 Phách đã lên tới chức Bí thư phủ Kiến Xương. Bị bắt ở Thái Bình, nhốt ở các nhà tù thị xã, Hỏa Lò Hà Nội, kết án 12 năm khổ sai, rồi đầy lên Sơn La (Bắc Bộ). Tại Sơn La, Phách được gần gũi “anh Cả” Sao Đỏ (Nguyễn Lương Bằng), và rồi tiếp tay Sao Đỏ vượt ngục. Năm 1944, trốn khỏi Sơn La, về hoạt động cho “ban công tác” của Trung Ương Đảng (bảo vệ Trường Chinh tức “anh Toàn”).

Năm 1945, thuộc Ủy ban Quân sự Bắc bộ, Bí thư Quân khu Hà Nội. Năm sau, 1946, chuyển qua quân đội. Trong giai đoạn 1947-1950, giữ chức Trưởng phòng tuyên truyền, Chủ nhiệm Bảo vệ quốc quân. Sau đó, được cử làm Chính ủy Trung đoàn Sông Lô (209), Phó chính ủy, rồi Chính ủy Đại Đoàn 312 (Tư lệnh là Lê Trọng Tấn), Chính ủy quân khu hữu ngạn, Bí thư Quân khu ủy. Năm 1958, được quân hàm Thiếu tướng. Hai năm sau, tại Đại hội III (tháng 9 năm 1960), được bầu làm Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Lao Động (Cộng Sản) Việt Nam.

Năm 1964, vào Nam, giữ chức Phó Chính ủy Bộ Chỉ huy Miền (B-2). Mùa Xuân năm 1968, cơ quan tuyên truyền của VNCH chẳng hiểu vì thiếu kiến thức chuyên môn, cố tình ngụy tạo, hay vì một lý do gì bỗng loan tin “tướng chỉ huy mặt trận Sài Gòn” là Trần Độ (Phách) bị tử thương. Phách, dĩ nhiên không chết. Năm 1974, thăng lên Trung tướng. Được cử làm Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị [TCCT], rồi Phó Ban miền Nam của Trung Ương.

Tháng 12/1976, tại Đại hội IV, Phách được bầu vào Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, Phó trưởng ban tuyên huấn TW, Bí thư cán sự bộ Văn Hoá, Thứ Trưởng Văn Hoá và Thông Tin. Tháng 2/1981, Trưởng ban Văn hoá, Văn nghệ TW. Từ tháng 3/1982, hoạt động trong phạm vi Quốc Hội (Chủ Nhiệm Ủy Ban Văn Hóa và Giáo Dục của Quốc Hội), và trở thành một trong những người nhiệt tình cổ vũ việc đổi mới, thực hiện đa đảng. Năm 1987, được bầu làm Trưởng ban Văn hoá, Văn nghệ TWĐ; Phó Chủ tịch Quốc Hội, Phó Chủ tịch Nhà Nước. Nhưng sau khi nghỉ hưu, Trần Độ nhiều lần chỉ trích tệ nạn tham nhũng và hối mại quyền thế của các lãnh đạo CSVN, đặc biệt là việc cắt đất cho Trung Cộng vào cuối năm 1999 và 2000. Ngày 9/8/2002, Trần Độ chết trong ghẻ lạnh của chính quyền, nhưng gây được nhiều tiếng vang và niềm mến phục của các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền thế giới.

 

6G00, tàu chạy vào ga Lào Cai. Hàng chục dân xe ôm và dịch vụ phòng ngủ, taxi, bán vé tàu vây quanh. Thuê một phòng nhỏ tại nhà nghỉ Hải Nhi, với giá 60,000 đồng một ngày. Nhờ cậu chủ mua hai vé tàu về Hà Nội vào buổi tối, 260,000 một vé giường nằm. Ngủ thiếp đi vài giờ.

9G30, bao taxi đi thăm Lào Cai và Sa Pa (Chapa), phía nam tỉnh lỵ. Điểm tham quan không thể thiếu sót là Hồ Kiều, nối liền Lào Cai với Hà Khẩu của Vân Nam. Giữa cầu có một gờ thép phân định ranh giới hai nước. Khách du lịch hai chiều khá đông. Vài chiếc xe vận tải cũng nặng nề qua cầu, dừng lại trước trạm hải quan.

Phía Vân Nam, một cổng bê-tông cốt sắt hình bán nguyệt vươn lên bề thế với bốn chữ đại tự “Trung Quốc Hà Khẩu.” Bên lãnh thổ Việt Nam, vỏn vẹn tấm bảng hình chữ nhật nhỏ “Cầu Hồ Kiều” màu xanh dương, khép nép nằm bên Đền Thượng sát chân cầu. Đền này do Trung Cộng xây, bồi thường cho những thiệt hại mà Lào Cai phải gánh chịu trong “bài học” của Đặng Tiểu Bình năm 1979.

Xe bọc lại phía Nam, qua cầu Cốc Lếu. Dừng chụp vài tấm hình kỷ niệm trước  chợ Cốc Lếu và ngôi nhà thờ cổ. Rồi trực chỉ Sa Pa, cách Lào Cai khoảng 32 cây số đường đèo. Cốc San. Cầu Móng Sến. Rồi Sa Pa rực rỡ hiện lên, trải dài theo thung lũng và các triền núi.

Sa Pa là thị trấn nghỉ mát nổi danh miền Bắc đã lâu. Trong giai đoạn Nhật chiếm đóng Đông Dương từ 1940 tới 1945, Sa Pa còn được dùng làm nơi chỉ định cư trú những Pháp kiều không thần phục chế độ Vichy. Thị trấn khá xinh đẹp, dù khó thể so sánh với Đà Lạt.

Đường lên di tích Hàm Rồng nằm sát một ngôi nhà thờ cổ tại trung tâm thành phố. Hàng quán chi chít bên nhau tới chân núi. Rải rác đó đây những nhóm thổ dân H’Mông bày bán quà du lịch, từ chiếc mũ vải sặc sỡ đủ màu tới những vòng nữ trang bằng bạc, bằng đồng. Đang dịp lễ hội lớn, khách du lịch khá đông.

Vườn lan nằm giữa đường lên đỉnh núi. Hầu hết các giỏ lan đều úa tàn. Từ lưng triền núi, có thể thấy dãy núi Hoàng Liên Sơn [Fan Si Pan] bàng bạc sương mây. Tầm mắt cũng có thể trải rộng theo toàn cảnh thị trấn đang vươn mình dưới ánh nắng dịu mát cuối Xuân. Màu đỏ nâu của mái ngói, màu vàng, trắng của tường vách các công sự trên nền xanh lục của núi đồi đẹp như một bức tranh.

2 giờ chiều, rời Hàm Rồng, cho xe chạy qua khu  hồ nhân tạo, nơi đặt trụ sở các cơ quan hành chính và tòa án. Rồi trực chỉ Lào Cai. Chụp hình trước công viên Nhạc Sơn, tòa án nhân dân tỉnh. Chú tài xế cho biết các công sở bắt đầu di chuyển về phía Nam vì huyện Cam Đường mới sát nhập vào thị xã Lào Cai. Vui miệng, chú kể lại một thuở ấu thời đầy sóng gió, đụng chạm với dân “đầu gấu” con ông cháu cha. Giấc mộng nhỏ là mở được một văn phòng du lịch nhỏ, tự mình làm chủ.

 

3 giờ chiều, trở lại phòng nghỉ. Thiếp vào giấc ngủ lả mệt. Thức giấc khi trời đã chạng vạng. Bảng đèn đỏ Ga Lào Cai đã được thắp sáng. Đài truyền hình đang tiếp vận hai kênh VTV 1 và VTV 3 của Hà Nội. Có thêm vài đài Trung Cộng.

Tám giờ tối, ra ga. Chuyến tàu SP 2 trở lại Hà Nội không khởi hành đúng giờ. Ngồi chờ khá lâu trong sân ga. Gần hết ngày nghỉ lễ dài, khách du lịch rất đông. Công ty xe lửa tăng cường thêm 5 chuyến tàu mà vẫn khó mua vé, nếu không muốn trả thêm ít chục ngàn cho giới “chợ đen.” Cảnh chen lấn mua vé và lên tàu náo loạn cả không khí êm ả của một tối rừng núi rừng. Có tiếng chửi thề và thái độ hung hãn của khách đi vì không được ra tàu kịp giờ. Khách du lịch ngoại quốc khá đông. Espania, Os-tra-lia, Pháp, Mỹ.

Cuối cùng, con tàu SP 2 cũng vào bến lấy khách. Dù vẫn toa 4 giường, nhưng cũ kỹ hơn chuyến tàu Thống Nhất. Chìm sâu vào giấc ngủ mỏi mệt. Tàu đến gần ga Hàng Cỏ  mới thức giấc. Theo chân đám đông hành khách ra lối cổng hậu.  Thuê một phòng ở khách sạn Sao Hà Nội, không xa chợ Ngô Sĩ Liên. Trong khi chờ phòng, ăn bánh mì tại một điểm gần chợ. Bà chủ có 8 con ở Nga, mới “đi Tây” 13 tháng thăm con cháu.

Vì còn ngày lễ, công sở chưa làm việc, tự cho phép ngủ li bì suốt ngày. Cuộc hành trình mệt mỏi nhiều hơn tưởng nghĩ. Hơn năm tháng tận lực nghiên cứu, du khảo cũng bắt đầu gợi nhắc tôi về số tuổi 62, cùng 30 năm đổi đời ở Mỹ, xứ của tiện nghi. Tối, mưa như trút nước. Cơn mưa ai nấy đều trông đợi sau bao tháng hạn hán, dù có lẽ vẫn chưa đủ cho việc nông tang. 20G00, lấy taxi xuống Bờ Hồ. Vài đường phố ngập nước. Hồ Gươm đầy rác rưởi.

Gần nửa khuya mới trở lại khách sạn. VTV3 chiếu lại trận túc cầu Chelsea-Bolton. Chelsea đã đoạt giải vô địch Bri-tên vào cuối tuần qua. Có lẽ điền vào thời gian chờ chiếu trận đấu lượt về giữa Liverpool và Chelsea của cúp Âu Châu.

Sáng Thứ Tư  4/5/2005, vào TTLTQG 3 lấy bản sao tài liệu về quốc sách Cải Cách Ruộng Đất và báo cáo về cuộc tranh đấu thi hành Hiệp định Geneva 1954. Tới Bờ Hồ gặp một thân hữu, đón báo Hợp LưuVăn Học.

 

Xuôi Nam

 

14G40 tàu mới khởi hành, nhưng phải trả phòng vào 12 giờ trưa. Chờ khá lâu ở ga. Giống như lượt ra, chỉ có hai vợ chồng tôi trong khoang 4 giường nằm khá tiện nghi.

Tàu rời Ga Hàng Cỏ. Chạy theo đường Lê Duẩn, qua Hồ Bảy Mẫu. Đường Giải Phóng có Cầu Vượt/Ngã tư Vọng, cầu Trắng, bến xe miền Nam. Qua Cầu Tiên tới huyện Thanh Trì, ga Văn Điển. Rồi Thường Tín, Hà Tây.

Mưa khi vào ga Tía. Thị trấn Phú Xuyên, chợ Lim. Ga Đồng Văn, Hà Nam. Phủ Lý. Ga Mỹ Lộc, Ý Yên, Nam Định. Vào địa phận Ninh Bình. Hoa Lư, thị xã Tam Điệp, ga Đồng Giao. Tới Sông Trà, Bỉm Sơn, Yên Sơn, thuộc lãnh thổ tỉnh Thanh Hoá. Bỉm Sơn là nơi Liên Sô Nga giúp Việt Nam xây dựng nhà máy xi-măng đầu tiên.

Mờ sáng Thứ Năm, 5/5/2005 [27 Tháng 3 Ất Dậu], thức giấc khi tàu bắt đầu đổ dốc đèo Hải Vân.

5G30, tàu rời Đà Nẵng. Cát trắng Chu Lai, Quảng Ngãi. Cố tìm dấu vết Khu kỹ nghệ lọc dầu Dung Quất, một kế hoạch đã được phê chuẩn 7 năm trước, nhưng chưa thể khởi công.

Đồng ruộng, núi đồi bắt đầu xanh hơn khi vào lãnh thổ Bình Định. 9G30, ga Phù Mỹ. 9G51, ga Phù Cát. 10G03, ga Bình Định. Đi về hướng Tây có Quốc lộ 19 xuyên qua An Khê, Bình Khê, lên tới Pleiku, Kontum. Điều khiến tôi áy náy nhất là không có cơ hội lên thăm miền Cao nguyên Trung bộ (Tây Nguyên)—với những địa danh như Ia Drang, căn cứ 5, căn cứ 6 hay Charlie, Dakto, Dak Sut. Nghe nói đang có nỗ lực xây dựng xa lộ chiến lược Trường Sơn từ đèo Mụ Già tới Ngã Ba biên giới. Trước ngày 30/4, một chiếc xe chở toán cựu chiến binh từ Hà Nội vào thăm lại xa lộ Trường Sơn bị tai nạn, tất cả hành khách đều tử vong. Tai nạn này chấn động dư luận, nhưng có thể cũng chỉ là đoạn kết, có thực, của truyện ngắn Tướng về hưu.

 

Tàu dừng lại ga Diêu Trì (Qui Nhơn) ít phút, rồi xuyên chạy giữa núi rừng về hướng Nam. La Hai. Đèo Cả. Tuy Hòa. Tu Bông, Giã (Vạn Ninh), Hòa Huỳnh. 13G13, ga Ninh Hòa. Từ Ninh Hòa, theo lộ 21 về hướng Tây Bắc sẽ tới Dục Mỹ, đèo M’Prack, Ban Mê Thuột. Dục Mỹ với trung tâm huấn luyện Pháo Binh, trung tâm huấn luyện Biệt Động Quân, trung tâm Lam Sơn cháy nắng thao trường. Ninh Hòa cũng là nơi nhà ái quốc duy tân Trần Quí Cáp đã bị thuyên chuyển đến đây với chức giáo thụ, sau khi “tiếng trống tựu trường” của ngôi trường hương học do ông lập nên ở Quảng Nam bị tố cáo là “làm phiền,” khuấy nhiễu cuộc sống bình lặng của nông dân. Rồi, tháng 6/1908, nhà lãnh tụ duy tân Quảng Nam bị làm án tử hình sau khi phong trào biểu tình chống sưu dịch bùng nổ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Thừa Thiên suốt mùa Xuân 1908. Trong tập điều trần Trung Kỳ Dân Biến Thỉ Mạt Ký đệ trình lên Toàn quyền Albert Sarraut ở Paris năm 1911, qua bản dịch của Đại úy Jules Roux, Phó Bảng Phan Chu Trinh đã nói không đúng sự thực về cuộc hành quyết Tiến sĩ Cáp. Nhà lãnh đạo duy tân Quảng Nam không bị chém ngang lưng trong vòng 24 giờ sau khi bị bắt. Vai trò Tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng cũng cần đặt lại. Giống như sự xuất hiện của báo Tiếng Dân từ năm 1927 tại Huế, trong nỗ lực phát động phong trào “Pháp-Việt đề huề” của Pierre Pasquier, mà thực chất chẳng khác biệt bao lăm với chủ trương “thờ người Pháp làm bậc thày để cầu tiến bộ” phơi giãi qua lá thư của “thân sĩ Quảng Nam tại ngục” viết cho Toàn quyền Pháp năm 1908.

 

13G41, ga Nha Trang. Bâng khuâng gợi nhớ những chuyến xe đò nghỉ phép cuối tuần từ Ninh Hòa vào, nặng nề uốn lượn quanh đèo Rọ Tượng, núi Rù Rì hay căn cứ sình lầy của Trung tâm huấn luyện Đồng Đế. Những người con gái đến, rồi đi. Những ki-ốt ngất ngưởng lạc thú dài theo vụng biển. Cuộc tình “khạc chẳng ra, nuốt chẳng vào” của Chuẩn và Thương Thương—hai nhân vật chính trong trường thiên Vòng Tay Lửa—đã khởi đi từ cát trắng, phi lao và đường phố Nha Trang xưa cũ. Nhưng chữ “duyên” với Nha Trang hình như chưa đến, ở chuyến về Việt Nam lần này. Ba lần chuẩn bị trở lại chốn cũ, thắp nén hương kính bái chú út đều phải bỏ dở. Ngay đến chuyến đi Đà Lạt, thị xã duy nhất trong số 44 tỉnh và thành phố miền Nam tôi chưa có dịp ghé chân, vẫn còn trong dự định.

Từ Cam Ranh trở vào Nam, hậu quả của hạn hán nửa năm qua trơ phơi trên những cánh đồng khô cằn. Những bầy dê, cừu, trâu bò gầy còm, thiểu não. Nhà tôi chỉ xuống những khoảnh vườn trồng thanh long, thoạt trông giống như cây xương rồng, nói về công dụng “thuốc ta” của loại trái tròn, màu đỏ khá được ưa chuộng.

15G23, Tour Chàm [Phan Rang]. 15G45, Cà Ná. Nghèo khó, thiên tai không chỉ giới hạn trên vùng đất một thời được biết như đất Hời này. Nhớ đến đôi mắt biếc tím u buồn của người thiếu nữ Hời lên tàu từ ga Cà Ná bốn mươi lăm năm xưa. Nỗi buồn lạnh của một sắc dân mất độc lập, biến thành một dân tộc thiểu số trong cộng đồng mới, to lớn hơn, do những kẻ chinh phục nắm chủ tể. Nhớ đến những cơn bi phẫn cuồng nộ ngất ngưởng cơn say của những chú lính Miên từ Đại đội 21 Thám Báo tới 42 Biệt Động Quân. Những nụ cười nhợt nhạt của thanh niên thiếu nữ miền cao nguyên Trung phần. Kẻ yếu cũng có luật riêng của họ—Luật sinh tồn. Nhưng so với thế giới nói chung và lân bang Trung Hoa nói riêng, Việt Nam lại đứng vào thế kẻ yếu. Luật sinh tồn cũng được áp dụng triệt để. Vua chúa, quan tướng Việt đời nào cũng phải “thờ thượng quốc” theo đúng hiếu đạo. Anh hùng nào hơn Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung mà vẫn phải cầu xin “hòa hiếu” với Bắc triều sau khi đánh đuổi ngoại xâm. Người đọc sử thông minh là người thấy được rằng chẳng có một chiến thắng trọn vẹn nào cho những nước nhỏ, dân yếu. Để tránh cảnh tận diệt, con dân những nước nhược tiểu phải biết quyền biến giữ thế đoàn kết nội bộ, duy trì và tăng cường tiềm lực phòng thủ quốc gia, đồng thời linh động trong ngoại giao với các nước khác.

Cách nào đi nữa, không thể không chấp nhận tình trạng quốc gia thống nhất hiện tại. Cuộc nội chiến đã khuất chìm vào quá khứ. Một dân tộc anh hùng là dân tộc dám tìm hiểu những bài học lịch sử để tự hòa giải trong hiện tại và vững mạnh tiến vào tương lai. Nhu cầu cấp bách của Việt Nam là thiết lập một chế độ pháp trị, hiến định, dựa vào Hiến chương Liên Hiệp Quốc (1945) cùng các công ước quốc tế khác, trên nền tảng nhân chủ, hiếu hòa, khoan nhượng của dân tộc Việt. Bản Hiến Pháp 1946 có thể là khởi điểm cho việc san định lại một Hiếp Pháp vĩnh cửu cho dân tộc.

Những tham vọng như độc quyền yêu nước, độc quyền cai trị, độc quyền áp đặt niềm tin tôn giáo hay ý thức hệ của một thiểu số trên toàn thể quốc dân chính là nguồn căn của những khổ đau, khốn nhục, nồi da xáo thịt suốt hơn hai thế kỷ qua. Cướp được chính quyền bằng họng súng, tiếp tục dùng họng súng để độc quyền cai trị, thì rồi cũng sẽ mất đi chính quyền ấy trước họng súng. Nhục mạ, hành hạ người thua cuộc; rồi sẽ bị nhục mạ, hành hạ, truy giết bởi những kẻ sẽ chiến thắng mình hay con cháu mình. Cuộc cách mạng truyền thông của cuối thế kỷ XX đã khiến thế giới hầu như thu nhỏ lại. Mọi nỗ lực giam hãm, điều kiện hóa trí tuệ thanh thiếu niên đều sẽ chỉ mang lại những phản ứng ngược. Chẳng bao giờ có điều gọi là tự do quá trớn.

Một tinh thần thượng tôn pháp luật cực kỳ cần thiết cho mọi kế hoạch hiện đại hóa đất nước cần được xây dựng trên tinh thần tự do, dân chủ thực sự. Chỉ là ngụy biện, hoặc do thiếu hiểu biết, những luận cứ kiểu dân chủ tập trung, hay dân chủ nhân dân khác với dân chủ tư sản. Tự do và dân chủ chỉ có một. Những cái đuôi thêm vào như tập trung, nhân dân hay tư sản chẳng khác gì những mắt xích tẩm đầy nọc độc hủy hoại chính con người. Đã đến lúc trí thức và tuổi trẻ Việt hãy phá vỡ, vùi chôn, một lần và mãi mãi, những khuôn thước giáo điều ý thức hệ hay tôn giáo thời tân Trung Cổ ấy.

Và, cũng đã đến lúc, giới lãnh đạo Việt Nam, nên tự đặt cho mình câu hỏi, “Đổi Mới cho ai?”Đời người vốn ngắn ngủi. Hơn hai ngàn năm xưa, Trang Châu đã bàn đến sắc đẹp của Tây Thi lúc về già, hay sau khi chôn xuống huyệt địa. Chưa ai bàn về chiến công của Chế Bồng Nga và hiện tại của dân Chàm; ngoại trừ những lời truyền tụng như Nguyễn Văn Thiệu gốc dân Hời, tạo nên thảm kịch 1975 để báo thù, phục hận.

Xuân Lộc. Biên Hòa. Thủ Đức. 21G00, ga Hòa Hưng.

Chuyến tàu Thống Nhất chấm dứt. Những ngày làm việc ở quê cha, đất Tổ cũng được đếm từng ngày. Cái nóng oi nồng của Sài Gòn úp chập lên thân tâm. Hình như vắng thiếu trong tôi những mặt sóng bồng bềnh, vỗ về, chào đón của mỗi lần từ trận địa trở lại thủ đô miền Nam.

Houston, 5-6/2005-1/4/2018

Nguyên Vũ

(*) Tác giả, Tiến sĩ Sử học /Tiến sĩ Luật học Vũ Ngự Chiêu, xin cảm tạ Hội Đồng Fulbright của Bộ Ngoại Giao Liên Bang Mỹ, và Trung tâm William Joiner Center, Đại học Massachusetts tại Boston, đã tài trợ việc nghiên cứu về “Khía cạnh Luật pháp của kế hoạch Đổi Mới tại Việt Nam, 1985-2005” từ tháng 11/2004 tới tháng 5/2005.

Vu Ngu Chieu. “The Other Side of the Vietnamese 1945 Revolution: The Empire of Vietnam (March-August 1945);” Journal of Asian Studies (February 1986). Tr. 293-338.

__________. “Political and Social Change in Viet-Nam Between 1940-1946.” Unpublished PhD dissertation, UW-Madison. 1984.

__________.  “From Embargo to Normalization: The Human Rights Aspects Of The United States-Vietnam Relations, 1975-1995;” unpublished J. D. Human Rights Seminar (Spring 1999) under the supervision of Professor Jordan J. Paust, University of Houston Law School, Houston, TX.

__________. Các vua cuối nhà Nguyễn, 1884-1945, 3 tập. Houston: Văn Hoa, 1999-2000.

__________. “Vài Cảm Nghĩ Về Cuộc Tự Thiêu của Thượng Tọa Thích Quảng Đức.” Hợp Lưu, tháng 8-9/2005. Tr 152-206.

__________. Lá bài bí mật của de Gaulle: Hoàng tử Vĩnh Sang (1900-1945). Houston: Văn Hoá, 1992.

__________. “Nguyễn Ái Quốc: Người Việt Nam đầu tiên tới Mỹ?” Hợp Lưu (Fountain, Valley), số ;

__________.  “Nhà Lý (21/11/1009-10 [20]/1/1226): Xây Dựng và Bảo Vệ Đất Nước;” (2014) hopluu.net; vietnamvanhien.net; minhtrietviet.net.

__________ & Hoàng Đỗ Vũ. Nhục Hận Đông Nam Á: Kiện hay Không Kiện? 3 tập. Fountain Valley, CA: Hợp Lưu, 2015-2016. Tập 1 và 3 (bổ túc), tr 222-234.

__________ & Hoàng Đỗ Vũ. Viết Từ Chân Đền Hùng: Vấn Đề Quốc Thống. Fountain Valley, CA: Hợp Lưu, 2015.

__________.& Nguyễn Thế Anh. Một Ngôi Trường Khác Cho Nguyễn Tất Thành / Another School for Young Nguyen Tat Thanh / Une autre ecole pour le jeune Nguyen Tat Thanh. Paris: Van Hoa. 1983.

Wade, Geoffrey. Southeast Asia in Ming shi-lu: An Open Access Resource. Trans  from Chinese. Singapore: National University of Singapore database: 2005.

www.vietnamvanhien.org